Trước khi thêm ao nuôi, cần kiểm tra khu xử lý, nước đã chuẩn bị và hệ cấp khí dự phòng có đáp ứng được không. Nếu những phần này thiếu, diện tích tăng thêm có thể làm trại quá tải dù trên bản vẽ có vẻ tăng sản lượng.
Bắt đầu thiết kế bằng mô hình nuôi, lượng thức ăn cao nhất và lịch sản xuất. Sau đó tính dung tích nước, đường ống, điện và mặt bằng. Tỷ lệ chia diện tích cần phù hợp các nhu cầu này của từng trại.
1. Xác định kế hoạch sản xuất
FAO nêu rõ không có một thiết kế ao tôm tiêu chuẩn áp dụng cho mọi điều kiện. Trại còn gồm công trình cấp, thoát nước và các hạng mục hỗ trợ.[1] Với nuôi mật độ cao, cần làm rõ lượng tôm, thức ăn và chất thải tại từng ao hoặc bể thay vì chỉ số ao dự kiến.
Bản yêu cầu thiết kế nên ghi số giai đoạn, thể tích mỗi ao, sinh khối cao nhất dự kiến, lượng ăn cao nhất, số ao hoạt động đồng thời và cách thu hoạch. Các giả định này cần phù hợp năng lực quản lý thực tế, không lấy riêng năng suất quảng cáo làm đầu vào.
Khảo sát thêm cao độ, nền đất, nguồn nước, khả năng thoát, nguy cơ ngập và đường điện. Hướng dẫn xây ao của Queensland nhấn mạnh nền móng, bờ giữ nước, khoảng trống trên mực nước và công trình vào, ra.[2] Mặt bằng đẹp chưa thay thế khảo sát hiện trường.
2. Vẽ riêng đường nước cấp và nước thải
Với nước đầu vào, sơ đồ khái niệm là: nguồn cấp → lắng hoặc tiền xử lý → xử lý theo mục tiêu → kiểm tra và dự trữ nước sẵn sàng → khu ương, ao nuôi. Mỗi bước cần có chức năng và điều kiện chuyển nước rõ.
Nước ra từ ao cần tuyến gom chất rắn, nơi điều hòa và xử lý tiếp theo thiết kế. Nước đạt điều kiện mới được tái sử dụng hoặc chuyển tới điểm tiếp nhận phù hợp. Đường bùn cần được thể hiện riêng để biết chất thải thực sự đi đâu.
Không chỉ đặt tên một ao là “ao lắng” rồi giao cả nhiệm vụ khử trùng, dự trữ và xử lý nước thải. Cần thể hiện hướng dòng, van, cao độ và điểm kiểm tra. Đặc biệt tránh nước chưa xử lý đi vào tuyến nước đã sẵn sàng cấp.
3. Phân biệt nước lấy mới với nước tuần hoàn
Bơm tuần hoàn 100 m³/giờ không có nghĩa trại cần lấy mới 2.400 m³ mỗi ngày. Phần lớn nước đó có thể đang đi vòng trong hệ thống. Nhu cầu nước mới gồm bù hao hụt, thay theo quy trình, rửa lọc, vệ sinh và các nhu cầu vận hành khác.
Ví dụ giả định bốn ao, mỗi ao 500 m², chiều sâu nước trung bình 1,4 m. Tổng nước ao nuôi là 2.800 m³. Nếu kịch bản tính toán chọn thay 5% mỗi ngày thì cần 140 m³/ngày cho phần này, chưa gồm các nhu cầu khác.
Giả sử cộng thêm 30 m³/ngày cho hao hụt, rửa và thao tác, tổng là 170 m³/ngày. Mức 5% và 30 m³ chỉ phục vụ ví dụ, không phải khuyến cáo cho mọi trại. Cần đo hoặc ước tính có căn cứ cho hệ thực.
4. Tính lượng nước dự trữ thực sự dùng được
Trong ví dụ trên, dự trữ ba ngày cần 510 m³ nước đã sẵn sàng cấp. Đây là dung tích sử dụng được, khác tổng thể tích xây dựng. Bùn, vùng nước không hút hết và khoảng dự phòng an toàn đều có thể làm giảm dung tích hữu dụng.
Với bể thành đứng và chiều sâu nước hữu dụng giả định 1,5 m, 510 m³ tương ứng 340 m² mặt nước. Ao có mái dốc phải tính theo hình học thực. Diện tích đất còn phải cộng bờ, lối đi và hạng mục liên quan.
Tiếp tục kiểm tra kịch bản nguồn nước xấu kéo dài, một bể dừng bảo trì hoặc cần cấp đầy lại ao sau vệ sinh. Dự trữ đủ cho vận hành trung bình chưa chắc đủ khi nhiều việc lớn diễn ra cùng lúc.
5. Kiểm tra hiệu quả theo thời gian nước ở lại công trình
Thời gian lưu danh nghĩa bằng thể tích hữu dụng chia lưu lượng qua công trình. Ví dụ bể 340 m³, dòng qua 170 m³/ngày thì thời gian lưu danh nghĩa là hai ngày. Phép tính không khẳng định hai ngày đủ để xử lý mọi chất hay tác nhân bệnh.
Nước có thể đi tắt từ đầu vào tới đầu ra; bùn có thể chiếm bớt thể tích. Với lắng, cần xem khả năng lắng của hạt và lưu lượng nước qua công trình. Với khử trùng, phải xem điều kiện công nghệ và phép kiểm tra hiệu lực phù hợp.
Đặt tiêu chí đầu ra cho từng công đoạn: chất rắn cần giảm đến đâu, nước phải qua bước kiểm tra gì và khi nào được chuyển. Như vậy mới có căn cứ nghiệm thu, thay vì chỉ xác nhận ao đã được đào đủ kích thước.
6. Tính nhu cầu cao điểm khi thu hoạch
Một ao trong ví dụ chứa khoảng 700 m³. Nếu tháo lượng đó trong mười giờ, lưu lượng trung bình riêng ao là 70 m³/giờ. Công trình chỉ nhận theo nhu cầu trung bình ngày có thể không đáp ứng đợt nước này.
Cần xem phương án điều hòa nước, lịch thu hoạch luân phiên hoặc thời gian tháo phù hợp. Những lựa chọn này ảnh hưởng mặt bằng và lịch vụ. Tính trước sẽ dễ hơn việc tìm chỗ làm thêm bể khi trại đã hoạt động.
Bùn cũng cần nơi chứa, xử lý và đường vận chuyển. Khối lượng chất khô không bằng thể tích bùn ướt. Muốn tính khu chứa phải biết hàm lượng chất rắn, lượng nước đi kèm và thời gian lưu dự kiến.
7. Chia diện tích từ kết quả tính toán
Trên một hecta, cần dành chỗ cho ao nuôi, ương, xử lý đầu vào, dự trữ, nước thải, bùn, đường, kho, điện và bảo dưỡng. Mỗi chức năng phải có công suất phù hợp. Không nên bắt đầu bằng yêu cầu ao thương phẩm nhất định chỉ được chiếm 15–20%.
Tỷ lệ cần còn phụ thuộc công nghệ, địa hình, nguồn cấp và cách vận hành. Ao xử lý sâu hơn cũng không mặc định hiệu quả hơn. Khi so sánh phương án, thống nhất đang tính phần trăm diện tích mặt nước hay tổng diện tích đất kể cả bờ và đường.
Thử lập bảng cho từng hạng mục với ba cột: nhiệm vụ, công suất cần và diện tích tương ứng. Nếu còn một nhiệm vụ không có công trình hoặc quy trình đáp ứng, phương án chưa hoàn chỉnh dù tổng diện tích cộng đúng một hecta.
8. Chuẩn bị điện dự phòng và khả năng tách từng ao
FAO nhấn mạnh việc duy trì cấp khí liên tục khi thiết kế trại giống. Với trại thương phẩm mật độ cao, hãy liệt kê thiết bị cần tiếp tục chạy khi mất điện, gồm cấp oxy, các bơm cần thiết và cảnh báo. Dựa vào danh sách đó để tính nguồn dự phòng. [3]
Cộng số kW trên nhãn động cơ mới là một phần của việc chọn máy phát. Kỹ sư điện còn phải kiểm tra dòng lúc khởi động, hệ số công suất, thứ tự cấp điện cho thiết bị và điều kiện của máy phát. Trước thả giống, chạy thử chuyển nguồn khi các thiết bị cần thiết đang hoạt động.
WOAH yêu cầu xem các đường đưa và lan tác nhân bệnh, gồm nước, người và thiết bị.[4] Trên mặt bằng, cần thể hiện nơi nhận giống, dụng cụ, thu hoạch và vệ sinh. Hàng rào hay hố sát trùng chỉ hữu ích khi có quy trình duy trì hiệu quả.
Kiểm tra một ao có thể được cô lập khi cần hay không. Nếu mọi ao cùng hồi nước vào một tuyến không có kiểm soát, gọi chúng là những khu cách ly riêng chưa đủ. Cần biết đóng van nào, nước đi đâu và ai chịu trách nhiệm.
9. Chạy thử bằng nước trước khi thả giống
Đo lưu lượng đo được thực tế, thử thoát cạn, kiểm tra rò rỉ, đường bùn và chuyển nguồn điện. Đi theo từng tuyến trên bản vẽ để xác nhận thao tác bảo dưỡng có làm được ngoài hiện trường không.
Quy hoạch có giá trị khi trại vận hành được trong cả ngày bình thường lẫn lúc có sự cố. Phần đất phụ trợ cần được xem là nơi tạo năng lực cho ao nuôi, với nhiệm vụ và công suất rõ ràng.
Tài liệu tham khảo
Bài mới nhất
Đang tải bài mới...






0 nhận xét:
Đăng nhận xét