Chọn dê cái sinh sản cần nhìn xa hơn số con của một lứa. Trại cần con cái đẻ được, nuôi con đến lúc cai sữa và duy trì sức khỏe qua các lứa tiếp theo.
Bắt đầu từ hồ sơ sinh sản Với dê đã đẻ, hỏi ngày phối, ngày đẻ, số con sinh ra, số sinh sống và số cai sữa. Ghi thêm khó đẻ, mất con và những lần điều trị liên quan. Với dê hậu bị, dùng hồ sơ mẹ và quá trình lớn của chính con đó, đồng thời ghi phần thông tin chưa biết.
Ví dụ hai cái đều đẻ đôi nhưng một con nuôi được hai con đến cai sữa, con kia thường mất một con. Cần tìm nguyên nhân của chênh lệch trước khi coi hai cái có giá trị giống như nhau.
Sờ đánh giá thể trạng, không chỉ nhìn bụng Chấm thể trạng giúp đánh giá mức gầy béo bằng quan sát và sờ các vị trí phù hợp. Ontario nhấn mạnh đây là công cụ theo dõi thay đổi qua các giai đoạn sản xuất. Bụng lớn hoặc lông dày có thể làm người nhìn đánh giá sai nếu không kiểm tra bằng tay. [1]
Dùng cùng thang điểm và cách làm giữa các lần. Ghi ngày chấm để biết dê có xuống thể trạng sau nuôi con và hồi phục trước phối hay không.
Kiểm tra chức năng bầu vú và chân móng Quan sát bầu vú, núm vú, dấu hiệu tổn thương và việc con bú được. Hỏi lịch viêm vú và khả năng chăm con. Đồng thời xem chân móng, dáng đi và khả năng tiếp cận thức ăn, nước uống.
Trước mùa phối, đánh giá thể trạng và sức khỏe cả đàn cái. Tài liệu Penn State lưu ý con quá gầy hoặc quá béo đều cần được xem lại chương trình dinh dưỡng; bổ sung thức ăn trước phối phải theo tình trạng thực tế. [2]
Ra quyết định theo nguyên nhân Một cái nuôi con kém do thiếu thức ăn cần cách xử lý khác với cái có vấn đề bầu vú lặp lại. Tách nhận xét thành đặc điểm của con vật, điều kiện chăm sóc và thông tin cần kiểm tra thêm.
Lưu lý do giữ, theo dõi hoặc loại khỏi đàn giống. Khi chọn hậu bị thay đàn, nối mã con với mẹ để kiểm tra xem những điểm trại muốn cải thiện có xuất hiện ở thế hệ sau hay không.
Tài liệu tham khảo
Bài mới nhất
Đang tải bài mới...






0 nhận xét:
Đăng nhận xét