Công suất điều hòa phải đáp ứng lượng nhiệt cần lấy khỏi phòng. Diện tích chỉ là một phần; đèn, khí tươi, vỏ phòng và lịch mở cửa đều ảnh hưởng. Hai máy chạy luân phiên chưa chắc tạo được dự phòng nếu mỗi máy không đủ tải.
1. Tính đúng nguồn nhiệt
Liệt kê kích thước phòng, cách nhiệt, nắng, người, đèn và thiết bị. Khí ngoài đưa vào cũng làm tăng nhu cầu làm lạnh và xử lý ẩm.
Hướng dẫn của Natural Resources Canada khuyến nghị tính chi tiết các yếu tố này khi chọn máy; một hệ số theo mét vuông không thay được tính tải cho phòng sản xuất. Nguyên tắc chọn công suất.
2. Phân biệt công suất lạnh với điện tiêu thụ
BTU/h hoặc kW lạnh biểu thị khả năng lấy nhiệt. Điện đầu vào là lượng điện máy sử dụng. Không lấy công suất lạnh nhân giờ rồi gọi ngay là tiền điện.
Ví dụ giả định, máy có điện đầu vào trung bình 1 kW trong 10 giờ dùng 10 kWh. Thực tế phải đo vì máy có thể thay đổi tải theo điều kiện.
3. Dự phòng phải được kiểm tra
Nếu cần phòng vẫn hoạt động khi một máy hỏng, xác định máy còn lại chịu được mức tải nào. Cần cả nguồn điện, cảnh báo và thời gian người sửa tới nơi.
Chạy luân phiên có thể chia thời gian vận hành, nhưng không bảo đảm xử lý được mọi sự cố. Thử tình huống mất một máy trong điều kiện kiểm soát.
4. Đo tại kệ, không chỉ trên màn hình máy
Cửa gió có thể làm vùng gần máy lạnh hơn nơi xa. Đặt điểm theo dõi phù hợp các vị trí hũ và tránh thổi lạnh tập trung.
Mức nhiệt lựa chọn cần theo chủng và giai đoạn, không coi 18–22°C là yêu cầu cố định cho mọi quy trình.
5. Nghiệm thu bằng dữ liệu vận hành
Theo dõi nhiệt, ẩm, thời gian phục hồi sau mở cửa và điện dùng khi phòng có tải đại diện. Ghi cả ngoài trời và số hũ.
Chọn phương án theo khả năng giữ điều kiện và chi phí duy trì. Phần điện, thoát nước ngưng và bảo vệ cần người có chuyên môn thực hiện.
| Cần kiểm | Mục đích |
|---|---|
| Tải nhiệt | Chọn đủ khả năng làm lạnh |
| Một máy dừng | Xác nhận mức dự phòng |
| Nhiệt tại kệ | Tìm vùng lệch |
| Điện thực đo | Tính chi phí vận hành |
Bài mới nhất
Đang tải bài mới...






0 nhận xét:
Đăng nhận xét