Giá cua bán cao chưa chắc lãi cao. Trại phải mua cua đầu vào, chịu hao hụt và chi tiền chăm trong lúc chờ khách trả. Tiền mua cua phát sinh ở các lứa sau, không chỉ lứa đầu. Bài này dùng số giả định để giải thích doanh thu, chi phí và tiền còn lại; không dự báo mức lãi cho một trại cụ thể.
Tính hàng khách đã nhận và giá thực được chấp nhận
Doanh thu cần gắn với số lượng giao, khối lượng được cân nhận, cấp chất lượng và giá thực thu theo thỏa thuận. Cua bị trả lại, giảm giá hoặc chưa bán không được tính như hàng loại tốt đã bán hết. Nếu có nhiều sản phẩm như cua lột, cua cốm và cua thịt, cần lập dòng riêng vì khối lượng, giá và thời điểm bán khác nhau.
Một bảng doanh thu tốt còn tách thời điểm giao hàng với thời điểm thu tiền. Bán chịu tạo khoản phải thu, không tạo ngay tiền để trả nhà cung cấp.
Phí giao hàng, hao hụt vận chuyển, chiết khấu và hàng bị khiếu nại cũng cần được ghi nhận đúng. Giá niêm yết trên mạng chỉ là thông tin tham khảo; kế hoạch nên dùng điều kiện giao dịch mà khách thực sự chấp nhận.
Tính tiền mua cua cho từng lứa
Ví dụ giả định: trại mua 100 con với giá 100.000 đồng mỗi con, tổng tiền 10 triệu đồng. Sau một lứa, bán được 90 con, khối lượng trung bình 0,25 kg mỗi con, giá 500.000 đồng/kg.
Doanh thu là 90 × 0,25 × 500.000 = 11,25 triệu đồng. Chênh lệch giữa doanh thu và tiền mua cua chỉ là 1,25 triệu đồng, trước khi trừ thức ăn, điện, nhân công và các chi phí khác.
Ví dụ này không đưa ra tỷ lệ sống hay giá nên dùng; nó chỉ cho thấy vì sao doanh thu dễ gây ngộ nhận. Tiền mua lứa tiếp theo lại phát sinh khi trại tiếp tục vận hành.
Nếu tính khoản mua cua như chi phí chỉ xuất hiện một lần lúc xây trại, mọi dự báo lợi nhuận về sau đều bị thổi phồng. Cua còn tồn cần được kiểm kê riêng, không vừa tính là đã bán vừa tính là tài sản cuối kỳ.
Tính sản lượng từ số hộp dùng được và số ngày nuôi
Một phép tính công suất ổn định có thể dùng số hộp sẵn sàng, số ngày một lượt chiếm hộp và tỷ lệ bán được. Giả sử có 850 hộp thực sự sẵn sàng; mỗi lượt cần 30 ngày giữ cua và 2 ngày vệ sinh, chuẩn bị.
Trong một tháng quy ước 30 ngày, số lượt vào nuôi trung bình dài hạn là 850 × 30/32, xấp xỉ 797 lượt. Đây không phải số cua chắc chắn bán trong tháng đầu.
Tiếp tục giả định tỷ lệ sống 90%, trong số sống có 80% đạt nhóm hàng chính và khối lượng nhóm đó trung bình 0,25 kg/con. Sản lượng nhóm chính ước tính khoảng 797 × 0,9 × 0,8 × 0,25 = 143 kg/tháng.
Nhóm còn lại phải có cách tính riêng. Toàn bộ số liệu ở đây là ví dụ công suất; cần thay bằng dữ liệu thực của sản phẩm, cỡ cua và lịch lứa tại trại.
Phân biệt chi phí, khấu hao và tiền thực thu chi
Chi phí vận hành gồm những khoản cần để tạo và bán sản phẩm: cua đầu vào, thức ăn, điện nước, nhân công, vật tư, kiểm nghiệm, bảo trì, xử lý chất thải, thuê mặt bằng và vận chuyển.
Nên phân biệt khoản biến đổi theo sản lượng với khoản vẫn phải trả khi trại giảm tải. Công của chủ trại cũng cần được tính theo cách nhất quán nếu muốn đánh giá mô hình có khả năng thuê người thay mình hay không.
Khấu hao là cách chia giá trị thiết bị thành chi phí qua thời gian sử dụng, không phải tháng nào cũng trả đúng khoản đó để mua máy. Ngược lại, trả gốc vay làm tiền trong tài khoản giảm nhưng không tính toàn bộ thành chi phí kỳ đó; lãi vay theo dõi riêng. Vì thế, số lãi và số tiền còn trong tài khoản có thể khác nhau.
Thử trường hợp bất lợi trước khi nói hoàn vốn
Ngoài phương án dự kiến, tính thêm lúc giá bán giảm, giá mua cua tăng, phải giữ lâu hơn hoặc ít con đạt loại tốt. Xem yếu tố nào làm tiền lãi giảm nhiều nhất. Cua sống nhiều vẫn có thể lỗ nếu tiền mua và chăm vượt tiền thu về.
Muốn biết hoàn vốn chưa, cộng tiền thực còn lại qua các kỳ rồi so với vốn đã bỏ ra. Cần tính cả lúc khởi động, tháng ít hàng, sửa chữa và tiền phải bổ sung. Lấy vốn chia cho một tháng lãi cao sẽ dễ cho mốc quá đẹp. Không có thời gian hoàn vốn chung cho mọi trại một nghìn hộp.
Ghi theo lứa và đối chiếu tổng tháng
Trại có thể lập báo cáo theo lứa và đối chiếu tổng tháng. Mỗi lứa cần nối được mã mua cua, tiền mua, số nhập, số chết, số chuyển nhóm, lượng bán, tiền thu và chi phí liên quan. Khi các lứa gối nhau, theo dõi tồn đầu kỳ và cuối kỳ giúp tránh quy hết chi phí cho lứa vừa bán hoặc bỏ quên lứa đang nuôi.
Tiền bán trừ chi phí tăng theo số cua mới cho biết phần còn để trả chi phí cố định và các nghĩa vụ khác. Nó chưa phải toàn bộ lợi nhuận của trại. Hãy dùng báo cáo để tìm chỗ cần sửa, thương lượng giá hoặc giảm quy mô. Chỉ mở rộng khi đã kiểm tra được cả kết quả nuôi lẫn khả năng xoay tiền.
Bảng theo dõi để áp dụng tại trại
| Dòng theo dõi | Cách hiểu | Dữ liệu cần giữ |
|---|---|---|
| Doanh thu | Giá trị hàng bán được chấp nhận | Phiếu cân; cấp hàng; hóa đơn; trả hàng |
| Cua đầu vào | Chi phí lặp lại khi vào lứa mới | Số con; khối lượng; tiền; mã lứa |
| Công suất | Lượt sử dụng hộp theo thời gian | Hộp sẵn sàng; ngày giữ; ngày chuẩn bị |
| Dòng tiền | Tiền thực thu trừ tiền thực chi | Ngày thanh toán; công nợ; gốc vay |
| Hoàn vốn | Dòng tiền tích lũy bù vốn đã bỏ ra | Lịch đầu tư; vốn bổ sung; thu chi thực |
Tài liệu tham khảo
- Eurofish và FAO: lập kế hoạch và vận hành nuôi tuần hoàn
- Agricultural Marketing Resource Center: đặc điểm và yêu cầu của RAS
Bài mới nhất
Đang tải bài mới...






0 nhận xét:
Đăng nhận xét