Cao nấm men, peptone, bột đậu và nguyên liệu nhộng có thể cung cấp những thành phần dinh dưỡng khác nhau. Thay cùng khối lượng không đồng nghĩa giữ nguyên khẩu phần của nấm.
1. Biết mình đang thay gì
Ghi nguồn, độ ẩm và thông tin thành phần. Một nguyên liệu có thể đưa thêm đường, khoáng hoặc chất khác ngoài đạm.
Tỷ lệ C/N là tỷ lệ carbon với nitơ theo cách xác định. Không tính đơn giản bằng số gam gạo chia số gam peptone rồi coi đó là C/N thực.
2. Đặt mục tiêu đúng
Tơ nhiều, quả thể tốt và cordycepin cao là những chỉ tiêu cần đo riêng. Nghiên cứu trên KYL05 đã xem nguồn dinh dưỡng trong nuôi lỏng cùng tăng trưởng và cordycepin. Không lấy kết quả đó làm công thức chung cho cơ chất rắn. Nghiên cứu dinh dưỡng dịch thể.
Chọn chỉ tiêu chính trước khi thử.
3. Giữ điều kiện so tương đương
Nếu thay một nguồn, ghi cả lượng chất khô và nước. Giữ giống, lượng nạp, xử lý và vị trí tương đương khi có thể.
Có hũ lặp và công thức mốc. Một hũ tốt hơn chưa đủ kết luận nguyên liệu mới là nguyên nhân.
4. Kiểm cả nhiễm và khả năng xử lý
Nguyên liệu làm cấu trúc hoặc lượng nước khác có thể yêu cầu xem lại trộn và hấp. Cảm quan đẹp chưa chứng minh đã kiểm soát tạp.
Ghi tỷ lệ nhiễm theo công thức. Không loại hũ hỏng khỏi phép tính rồi chỉ cân phần còn lại.
5. Tính lợi ích đủ mặt
So giá nguyên liệu, công chuẩn bị, điện, hao hụt và sản phẩm đạt. Nguyên liệu rẻ hơn trên hóa đơn chưa chắc rẻ hơn mỗi gam nấm bán được.
Khi thay nhà cung cấp, kiểm lại lô đầu. Giữ mẫu, công thức và kết quả để theo dõi biến động.
| Nội dung | Cần giữ tương đương |
|---|---|
| Dinh dưỡng | Thành phần, nước |
| Quá trình | Giống, trộn, hấp |
| Đánh giá | Nhiễm, tơ, quả thể, thành phần |
| Kinh tế | Đủ chi phí và tỷ lệ đạt |
Bài mới nhất
Đang tải bài mới...






0 nhận xét:
Đăng nhận xét