Có hố chứa bùn chưa có nghĩa đã xử lý được chất thải. Bùn có thể đầy nhanh, nước mưa tràn ra hoặc nước tách bùn quay lại nguồn cấp. Khi thiết kế, cần theo dõi từ lúc lấy bùn khỏi ao cho tới nơi xử lý hoặc sử dụng cuối cùng, cùng với lượng nước đi kèm.
Đừng lấy một tỷ lệ diện tích làm đáp án chung
Nhu cầu chứa phụ thuộc lượng bùn, độ loãng khi bơm, số lần thu gom, mưa và thời gian giữa các lần chuyển đi. Hai trại cùng diện tích ao có thể cần dung tích khác nhau. Tỷ lệ như 10% diện tích không tự bảo đảm hệ thống đủ sức chứa hoặc đáp ứng yêu cầu áp dụng.
QCVN 02-20:2014/BNNPTNT đã bị bãi bỏ. Vì vậy, không dùng các con số trong quy chuẩn cũ để khẳng định công trình hiện nay đạt yêu cầu. Cần đối chiếu hồ sơ môi trường, quy định hiện hành và điều kiện áp dụng của chính cơ sở với đơn vị có chuyên môn.
Tính bằng lượng thực tế và phần dung tích dự phòng
Ghi thể tích mỗi lần bơm, số lần trong kỳ và thời gian bùn lưu lại. Tách lượng bùn ướt khỏi khối lượng chất khô vì bơm nhiều nước làm tăng nhu cầu chứa. Đưa nước mưa và các nguồn nước chảy vào khu chứa vào phép tính.
Ví dụ giả định, một kỳ có 500 m³ bùn ướt, 300 m³ nước mưa chảy vào và cần chừa 200 m³ dự phòng thì tổng dung tích là 1.000 m³. Đây chỉ minh họa cách cộng. Chưa thể dùng để chốt kích thước vì còn nền đất, an toàn bờ, dòng chảy và cách vận hành.
Bố trí để bùn không quay lại ao nuôi
Xác định rõ đường ống hút, điểm xả bùn, nơi lắng hoặc tách nước và tuyến thu nước tách ra. Hạn chế đường chất thải giao với đường cấp nước sạch. Vị trí công trình cần xét địa hình, ngập lụt, khả năng tiếp cận của xe và khoảng cách theo yêu cầu áp dụng.
Nền, bờ và chống thấm phải phù hợp khảo sát tại chỗ. Một lớp bạt có thể rách hoặc bị thủng, nên vẫn cần kiểm tra và cách phát hiện rò rỉ. Không thiết kế bằng mắt rồi chỉ gia cố sau khi nước bẩn đã chảy ra ngoài.
Nước tách bùn cũng phải được quản lý
Lắng hoặc ép giúp giảm nước trong bùn, nhưng không tự loại hết chất ô nhiễm hòa tan khỏi nước tách. Dòng nước này cần được thu về công đoạn xử lý phù hợp. Không mặc nhiên xem nước nhìn trong là có thể xả hoặc bơm lại vào ao cá.
Theo dõi đường nước khi mưa lớn, khi bơm bùn và khi một ngăn đang bảo trì. Có kế hoạch dừng bơm nếu gần đầy, thay vì để tràn làm lối thoát thường xuyên. Cách vận hành phải phù hợp công suất thực tế và điều kiện xả thải của cơ sở.
Chốt nơi tiếp nhận và an toàn vận hành
Trước khi lấy bùn, xác định nơi tiếp nhận, phương tiện và hồ sơ giao nhận cần có. Nếu dùng cho đất trồng, phải đánh giá tính phù hợp và cách xử lý; bùn ao không tự thành phân hữu cơ đã đạt chất lượng. Tránh đổ nơi có thể chảy ngược về sông hoặc ao.
Khu bùn cần ngăn người không phận sự, có lối đi an toàn và kiểm soát thiết bị. Không xuống hố kín hay khu tích khí để kiểm tra bằng mùi. Bùn phân hủy có thể tạo khí nguy hiểm; công việc trong không gian hạn chế phải theo quy trình an toàn chuyên biệt.
Bảng kiểm tra tại ao nuôi
| Hạng mục | Câu hỏi cần trả lời trước khi vận hành |
|---|---|
| Sức chứa | Bùn; nước kèm theo; mưa; dự phòng đã tính đủ chưa? |
| Nước tách | Thu về đâu; xử lý thế nào; có đường tràn không? |
| Bùn sau tách | Ai nhận; điều kiện tiếp nhận; có ghi nhận không? |
| Sự cố | Khi đầy, rò rỉ hoặc mất điện thì dừng và xử lý ra sao? |
Tài liệu tham khảo
- Danh mục văn bản hết hiệu lực do cơ quan nhà nước công bố — thông tin bãi bỏ Thông tư 22/2014 và quy chuẩn liên quan.
- Global Seafood Alliance — trường hợp quản lý bùn tại trại cá tra; kinh nghiệm vận hành, không phải quy chuẩn thiết kế.
- Trường Đại học Cần Thơ — trao đổi chuyên đề về xử lý và ứng dụng bùn đáy ao cá tra.
- OSHA — nguy cơ khí hydro sulfua và an toàn lao động; không thay thế quy định áp dụng tại Việt Nam.
Bài mới nhất
Đang tải bài mới...






0 nhận xét:
Đăng nhận xét