Gan thận mủ thường gắn với vi khuẩn Edwardsiella ictaluri ở cá tra. Cá giảm ăn và các nốt trắng ở cơ quan bên trong là dấu cần kiểm tra, nhưng chưa đủ để tự chọn thuốc cho cả ao. Điều trị cần dựa vào chẩn đoán, khả năng vi khuẩn còn nhạy với thuốc và việc cá có ăn được lượng thuốc cần thiết hay không.
Dấu hiệu nào cần ghi lại?
Theo dõi mức ăn giảm, hành vi, số cá chết và tốc độ bệnh lan trong đàn. Khi người có chuyên môn khám mẫu, cần ghi cơ quan nào có nốt trắng và những tổn thương khác. Đốm trắng có thể cần phân biệt với tổn thương hoặc ký sinh khác; ảnh chụp một cơ quan chưa thay được xét nghiệm.
Ghi ao, nguồn giống, cỡ cá, ngày bắt đầu và những xử lý đã dùng. Nếu nhiều ao có biểu hiện, tách thông tin từng ao. Hồ sơ rõ giúp tránh quy mọi đợt chết về một tên bệnh quen thuộc.
Lấy mẫu trước khi tự đổi nhiều thuốc
Liên hệ nơi chẩn đoán để chọn cá đang có biểu hiện phù hợp và hỏi cách vận chuyển. Cá đã phân hủy thường khó dùng để tìm nguyên nhân. Nước cũng cần được kiểm tra vì bệnh có thể đi cùng thiếu oxy hoặc amoni, nitrit tăng.
Nếu đã dùng thuốc, báo tên thương mại, hoạt chất, lượng và ngày. Những thông tin này giúp giải thích kết quả nuôi cấy và lựa chọn kiểm tra tiếp. Không giấu việc dùng trước đó vì sợ ảnh hưởng đánh giá.
Vì sao không mặc định phối florfenicol với doxycycline?
Phối hai kháng sinh không tự bảo đảm mạnh hơn một thuốc phù hợp. Vi khuẩn có thể kháng, sản phẩm có hướng dẫn khác nhau và lượng thức ăn cá thực sự ăn có thể thấp hơn dự tính. Việc phối cần người phụ trách thú y đánh giá tương tác, chỉ định và yêu cầu sử dụng.
Một nghiên cứu gần đây trên 75 chủng E. ictaluri ở hai địa phương ghi nhận kháng florfenicol ở một phần đáng kể chủng. Kết quả đó không cho biết mọi ao đều kháng, nhưng đủ nhắc rằng không thể chọn thuốc chỉ từ tên bệnh hoặc kết quả nhiều năm trước.
Cá đang bỏ ăn ảnh hưởng điều trị qua mồi thế nào?
Lượng trộn vào mẻ thức ăn khác lượng từng con thực nhận. Con bệnh có thể ăn ít, còn con khỏe nhận nhiều hơn. Nếu thuốc rửa trôi hoặc mồi dư, lượng có ích lại giảm. Người phụ trách cần biết khối lượng cá ước tính và mức ăn hiện tại để lựa chọn cách phù hợp.
Không tăng thuốc tùy ý để bù việc cá ăn ít. Cũng không kéo dài liên tục vì chưa thấy hết chết. Cần định trước lúc kiểm tra hiệu quả và dấu hiệu phải xem lại chẩn đoán. Trong thời gian đó vẫn giữ oxy, giảm chất thải và tránh làm cá tổn thương thêm.
Đánh giá cả kết quả và hồ sơ sau điều trị
Ghi số chết hằng ngày, lượng ăn, chất lượng nước và tác dụng bất lợi. Khi không cải thiện, liên hệ lại người phụ trách thay vì nối thêm một thuốc. Số cá chết giảm tạm thời chưa đủ chứng minh vi khuẩn đã được kiểm soát hoàn toàn.
Chỉ dùng sản phẩm phù hợp yêu cầu hiện hành, giữ nhãn và số lô. Thời gian ngừng thuốc phải theo đúng sản phẩm và kế hoạch thu hoạch, không dùng một mốc chung cho mọi kháng sinh. Nhật ký điều trị cần nối được với lô cá bán.
Bảng kiểm tra tại ao nuôi
| Thông tin | Vì sao cần |
|---|---|
| Mẫu cá và kết quả xác định | Chọn đúng nguyên nhân và xét nghiệm |
| Kháng sinh đồ: phép thử độ nhạy của vi khuẩn với thuốc, khi được chỉ định | Hỗ trợ chọn thuốc vi khuẩn còn nhạy |
| Mức ăn thực; lượng đã cấp | Đánh giá khả năng điều trị qua thức ăn |
| Tên thuốc; ngày dùng; ngừng thuốc | Theo dõi đáp ứng và truy xuất |
Tài liệu tham khảo
- Nghiên cứu kháng kháng sinh của E. ictaluri trên cá tra giống tại Tây Ninh và Đồng Tháp
- UF/IFAS: chọn và gửi mẫu cá cho chẩn đoán
Bài mới nhất
Đang tải bài mới...






0 nhận xét:
Đăng nhận xét