Thức ăn cua ăn vào không biến hết thành thịt. Một phần trở thành chất thải trong nước, một phần nằm trong phân và mồi dư. Vi sinh giúp chuyển hóa một số chất, nhưng trại vẫn phải lấy cặn ra và kiểm soát chất tích tụ. Hiểu đường đi này giúp tìm nguyên nhân khi amoni hoặc nitrit tăng.
Thức ăn được chia thành thịt cua và các dạng chất thải
Một phần dinh dưỡng được cua ăn và giữ trong mô, một phần được thải sau chuyển hóa, một phần thành phân hoặc mồi dư. Chất hữu cơ còn có thể bị vi sinh phân hủy. Vì vậy, tải không chỉ tỷ lệ với số con; cỡ, mức ăn, thành phần và mức thu dư có ảnh hưởng lớn.
Nếu tính nitơ từ protein, phải biết cơ sở khô hay ướt và phương pháp. Một kg cá tươi không tương đương một kg thức ăn viên khô. Hệ số 6,25 thường dùng trong quy đổi protein thô và N là một quy ước, không mô tả mọi loại chất đạm thật giống nhau. Khi thiết kế cần ghi giả định và xác nhận bằng đo thực.
Mồi và phân để lâu có thể làm tăng amoni
Khi phân và thức ăn dư phân hủy, một phần nitơ trở thành amoni và amoniac trong nước. Hai dạng thường được theo dõi chung bằng chỉ tiêu TAN. Chất thải nằm lâu còn làm tăng nhu cầu oxy. Vì vậy, lấy mồi dư và cặn ra sớm giúp giảm việc bộ lọc phía sau phải xử lý.
TAN không được đọc tách pH, nhiệt và mặn nếu muốn đánh giá phần NH3. Cùng TAN nhưng điều kiện khác có thể tạo mức tiếp xúc khác. Không gọi NH4+ hoàn toàn vô hại để rồi bỏ theo dõi tổng tải hoặc chỉ cố thay pH cho kết quả phần NH3 thấp hơn.
Vi sinh chuyển amoni qua nitrit rồi thành nitrat
Trong quá trình này, một nhóm chức năng chuyển amoni thành nitrit; nhóm tiếp theo chuyển nitrit thành nitrat. Nhiều nhóm vi sinh có thể tham gia và thay đổi theo điều kiện nước. Không nên chọn sản phẩm chỉ vì có hai tên vi khuẩn quen thuộc in trên nhãn mà chưa biết khả năng xử lý thực.
Nghiên cứu bộ lọc sinh học RAS ở các độ mặn đã ghi nhận cộng đồng vi sinh và năng lực khác nhau. Màng đã thích nghi là tài sản sinh học, cần oxy, kiềm, dòng và điều kiện. Hóa chất, đổi mặn hoặc tăng tải có thể làm cân bằng hai chức năng thay đổi, dẫn tới nitrit tích lũy dù amoni đã giảm.
Nitrat vẫn cần được theo dõi khi ít thay nước
Trong nhiều bối cảnh, nitrat được xem ít độc cấp hơn amoni hoặc nitrit, nhưng nồng độ, thời gian và đối tượng vẫn cần đánh giá. Hệ ít thay nước cần có kế hoạch đo và kiểm soát tích lũy. Không bỏ nitrat khỏi nhật ký chỉ vì nó là sản phẩm cuối của công đoạn hiếu khí.
Thay nước hoặc công đoạn loại nitrat được thiết kế có thể là một phần quản lý. Khử nitrat không phải công việc tự xuất hiện trong mọi bể có góc thiếu oxy. Tạo vùng yếm khí không kiểm soát có thể sinh vấn đề khác; không đổ đường hoặc nguồn carbon vào hệ đang có cua theo tỷ lệ C:N mượn từ công nghệ khác.
Dùng lượng thức ăn để hiểu lượng nitơ đưa vào
Ví dụ giả định, đưa vào 1 kg thức ăn có 40% protein thô theo cùng cơ sở thì N quy đổi ban đầu xấp xỉ 64 g theo hệ số 6,25.
Không phải toàn bộ 64 g trở thành TAN trong ngày; nó được phân vào cua, rắn, hòa tan và các dòng khác. Ví dụ chỉ minh họa vì sao cần phân chia, không phải hệ số tải thiết kế cho mọi mồi cua.
Ghi thức ăn, rắn thu, cua xuất và các dạng N theo kế hoạch phù hợp sẽ giúp kiểm tra xu hướng. Một cân bằng thực có sai số lấy mẫu và đo, nên không cần ép khớp bằng cách gán phần thiếu cho một quá trình chưa được xác nhận. Dữ liệu thiếu nên được nhận diện để cải thiện.
Khi chỉ tiêu tăng, kiểm tra đúng khâu trong hệ
TAN tăng có thể do tải, giảm năng lực hoặc nước mới; nitrit tăng cần xem bước xử lý và thay đổi gần đó. Kiểm tra oxy, kiềm, pH, nhiệt, mặn, dòng và lịch vệ sinh, hóa chất. Không chỉ thêm vi sinh mà bỏ nguyên nhân làm cộng đồng vi sinh không hoạt động.
Nhật ký cần ghi rõ đang đo TAN, nitrit hay nitrat và đơn vị nào. Ghi chung “đạm độc” sẽ khó biết khâu xử lý nào có vấn đề. Đối chiếu lượng thức ăn, các số đo và lượng chất thải lấy ra để tìm việc cần sửa.
Bảng theo dõi để áp dụng tại trại
| Dạng hoặc dòng | Công việc quản lý |
|---|---|
| Thức ăn, rắn | Cân theo cơ sở rõ, cấp đúng, thu phần dư và đưa khỏi vòng. |
| TAN và nitrit | Theo dõi đơn vị, điều kiện và năng lực hai bước xử lý. |
| Nitrat và dòng ra | Đo tích lũy, ghi thay nước hoặc công đoạn loại được thiết kế. |
Tài liệu tham khảo
- Nghiên cứu quần xã nitrat hóa theo nước ngọt, lợ, mặn trong RAS
- Thử nghiệm chuyển hóa amoni và thích nghi theo độ mặn ở bể giá thể chuyển động
Bài mới nhất
Đang tải bài mới...






0 nhận xét:
Đăng nhận xét