Thức ăn tươi có nhiều nước nên không thể so phần trăm đạm trực tiếp với cám khô. Cua nhận được bao nhiêu dinh dưỡng còn tùy lượng ăn, khả năng tiêu hóa và chất lượng mồi. Khi chọn hoặc phối thức ăn, cần xem cả khẩu phần, thay vì chỉ tìm sản phẩm ghi phần trăm đạm cao.
Đạm cao chưa chắc đã cân đối những chất cua cần
Protein, thường gọi là đạm, cung cấp các axit amin để cơ thể tạo mô và thực hiện nhiều hoạt động. Thức ăn cần có nguồn đạm phù hợp và các axit amin cân đối. Đạm khó tiêu hoặc thiếu năng lượng đi kèm có thể khiến cua sử dụng kém và làm tăng chất thải.
Một nghiên cứu nhu cầu protein ở cua non S. paramamosain ước tính mức phù hợp trong điều kiện khẩu phần lipid được cố định. Con số của nghiên cứu không phải chuẩn cho cua lớn vỗ béo với mồi tươi khác chất lượng. Muốn dùng cần đọc cỡ, thời gian, cách tính và mục tiêu đáp ứng.
So thức ăn trên cùng cơ sở tươi hoặc khô
Ví dụ giả định, 100 g mồi có 25% chất khô và 16 g protein thì protein theo khối lượng tươi là 16%, còn theo chất khô là 64%. Không thể so trực tiếp 16% đó với 45% của một sản phẩm khô rồi kết luận mồi tươi thiếu đạm. Các số chỉ minh họa cách quy đổi, không đại diện một loại cá hay công thức.
Lượng nước trong mồi thay đổi thì cùng một kilogram tươi có thể chứa lượng dinh dưỡng khác nhau. Khi đổi mồi hoặc nguồn mua, cần xem lại thành phần và lượng cấp. Chỉ ghi cân nặng tươi có thể làm sai cách hiểu chi phí và FCR, tức lượng thức ăn dùng so với phần khối lượng cua tăng thêm.
Chất béo cần xem cả lượng lẫn loại
Chất béo cung cấp năng lượng và các thành phần có vai trò sinh học. Nghiên cứu cua non đã xem tương tác mức lipid và axit béo chuỗi dài n-3; các đáp ứng không thể rút thành càng nhiều dầu càng tốt. Loại dầu, độ oxy hóa và cân đối trong khẩu phần cần được kiểm soát.
Cholesterol, phospholipid và các axit béo chưa no chuỗi dài, thường gọi HUFA, là những nhóm khác nhau. Không thể thay tất cả bằng cách thêm nhiều dầu. Khi tính bổ sung, cần biết nguyên liệu đã có bao nhiêu và công thức cần gì, tránh cộng nhiều sản phẩm cùng nói hỗ trợ lột.
Không bổ sung vitamin và khoáng tùy ý khi cua yếu
Nhu cầu và nguồn hấp thu còn phụ thuộc nước, giai đoạn và sản phẩm. Tỷ lệ Ca:P trong thức ăn phải biết tổng hay khả dụng và cơ sở nghiên cứu, không áp 1:1 hoặc 1:1,5 chung cho mọi hệ. Canxi trong nước và kiềm cũng khác hai con số đó.
Vitamin, vi khoáng và chất phụ gia cần chất lượng, ổn định và mục đích rõ. Thiếu và dư đều có thể là vấn đề tùy chất. Không tự tăng liều vì cua yếu mà chưa đánh giá nước, ăn và bệnh; một con bỏ ăn sẽ không nhận được lượng bổ sung lý thuyết dù công thức trên giấy tăng.
Mồi phải ăn được và không rã quá nhanh
Thức ăn phải được cua chấp nhận, giữ cấu trúc phù hợp và không tan quá nhanh. Chất hòa tan rửa trôi làm lượng con vật nhận khác lượng đã cân. Độ bền quá cao hoặc kích cỡ không hợp cũng có thể làm ăn kém, nên cần thử trong điều kiện nước và thao tác thực.
Theo dõi phần dư, phân rã, thời gian ăn và chất lượng nước cùng tăng trưởng. Không dùng mùi hấp dẫn để bù nguyên liệu hỏng. Với khẩu phần chế biến tại trại, người có chuyên môn nên tính công thức và kiểm tra thành phần, không ghép các nguyên liệu “nhiều đạm” rồi coi đã đủ.
Đánh giá thức ăn bằng kết quả nuôi và chi phí
Theo dõi cả tăng trưởng, sức khỏe, phần dư và nước sau khi dùng một loại thức ăn. Giá rẻ nhưng rã nhiều có thể làm tốn công dọn và tăng gánh cho bộ lọc. Khi so hai khẩu phần, giữ các nhóm cua và cách chăm tương đương để biết khác biệt có thực sự đến từ thức ăn hay không.
Nhu cầu dinh dưỡng là lĩnh vực có thể thay đổi theo bằng chứng mới. Người nuôi nên giữ hồ sơ nguyên liệu, số lô và kết quả theo giai đoạn. Mục tiêu là lượng dinh dưỡng cân đối được cua sử dụng hiệu quả, không phải đạt một phần trăm đẹp bằng mọi giá.
Bảng theo dõi để áp dụng tại trại
| Thành phần | Cách đọc đúng |
|---|---|
| Protein | Cơ sở tươi/khô, axit amin, độ tiêu hóa và năng lượng đi cùng. |
| Lipid | Lượng, loại axit béo, cholesterol, phospholipid và độ ổn định. |
| Hiệu quả khẩu phần | Lượng ăn thực, rửa trôi, tăng trưởng, sống và tải nước. |
Tài liệu tham khảo
- Thử nghiệm nhu cầu protein ở cua non S. paramamosain
- Thử nghiệm mức lipid và n-3 LC-PUFA trên cua non
- Thử nghiệm tương tác cholesterol và phospholipid ở cua non giai đoạn sớm
Bài mới nhất
Đang tải bài mới...






0 nhận xét:
Đăng nhận xét