FCR cho biết lượng thức ăn dùng so với khối lượng cá tăng thêm. Chỉ số thấp thường được mong muốn, nhưng phải xem cách tính và chất lượng dữ liệu. Mức 1,55–1,65 có thể là mục tiêu của một kế hoạch, không phải cam kết cho mọi ao. Ghi sai tồn cá hoặc bỏ chi phí mồi sẽ làm kết quả đẹp hơn thực tế.
Thống nhất công thức cho cả vụ
Một cách theo dõi tại trại là lấy tổng thức ăn đã cấp chia phần khối lượng cá tăng tính theo quy ước rõ. Nếu có thu tỉa, chuyển cá hoặc còn tồn, phải đưa vào đúng chỗ. Không lấy toàn khối lượng thu làm tăng thêm mà bỏ khối lượng giống đầu vào.
Ví dụ giả định, thả tổng 10 tấn, cuối vụ thu 210 tấn, không có chuyển hay tồn theo cách tính này: tăng 200 tấn. Nếu cấp 320 tấn cám, FCR là 1,60. Ví dụ không đại diện kết quả của một hecta ao.
Thức ăn tươi và khô không so trực tiếp
Một kilogram mồi nhiều nước khác một kilogram viên khô về chất khô. Nếu ao dùng nhiều dạng thức ăn, cần báo rõ cơ sở hoặc quy đổi có dữ liệu. Đừng gộp khối lượng tươi rồi so FCR với một ao chỉ dùng cám khô.
Lượng đã cấp cũng khác lượng cá thật ăn. Phần rơi, rã hoặc dư vẫn là chi phí trại đã chịu. Giữ riêng cách tính nghiên cứu với chỉ số kinh tế từ thức ăn xuất kho.
Cập nhật đàn để tránh cấp theo số cũ
Theo dõi giống, chết, chuyển và thu. Ước khối lượng bằng lấy mẫu có kế hoạch, hạn chế sai do chọn cá lớn hoặc nhỏ. Không tăng cám chỉ vì bảng cũ nói đã tới tuần cần ăn nhiều.
Mỗi bữa xem phản ứng và điều kiện nước. Nếu cả đàn giảm ăn, tìm nguyên nhân trước khi thêm chất kích ăn. Cấp dư làm tốn tiền và tăng lượng oxy bị tiêu thụ, cặn và chất hòa tan trong ao.
Đổi FCR thành tiền để biết mức ảnh hưởng
Ví dụ giả định giá cám 12.000 đồng/kg: FCR 1,60 tương ứng 19.200 đồng thức ăn cho mỗi kilogram tăng theo cùng cách tính. FCR 1,70 là 20.400 đồng, chênh 1.200 đồng. Đây là giá minh họa, chưa gồm chi phí khác.
Giảm FCR có ý nghĩa khi cá vẫn khỏe, sản phẩm đạt và thời gian nuôi phù hợp. Không giảm ăn quá mức chỉ để tổng cám thấp. Nếu vụ kéo dài hoặc tỷ lệ sống giảm, tổng tiền có thể xấu đi dù một chỉ số trông khá.
Đối chiếu kho và báo cáo ao
Tồn đầu cộng nhập trừ tồn cuối phải nối với cám cấp, chuyển và phần hỏng. Kiểm tra chênh ngay, tránh cuối vụ phân bổ theo trí nhớ. Hóa đơn, số lô và nhật ký từng bữa ăn là căn cứ bổ sung nhau.
Sau vụ, tìm giai đoạn thức ăn tăng mà cá tăng chậm, kiểm nguồn giống, nước và bệnh. Dùng dữ liệu để đặt mục tiêu vụ sau. Không tự điền mức 1,60 vào bảng dự toán như kết quả chắc chắn.
Bảng kiểm tra tại ao nuôi
| Số liệu | Cần ghi rõ |
|---|---|
| Thức ăn | Dạng; cấp thực; cơ sở tươi hoặc khô |
| Khối lượng cá | Nhập; thu; chuyển; tồn; cách ước |
| Kinh tế | Giá thật; thời gian; tỷ lệ sống và hạng bán |
Tài liệu tham khảo
- FAO: thực hành thức ăn và hiệu quả sử dụng trong nuôi cá tra
- NACA: ghi chép và quản lý vụ nuôi cá tra
Bài mới nhất
Đang tải bài mới...






0 nhận xét:
Đăng nhận xét