Cá bột cần thức ăn phù hợp ngay khi bắt đầu ăn ngoài. Chỉ có nhiều mồi chưa đủ nếu mồi quá lớn, phân bố kém hoặc mang nguy cơ. Giai đoạn này cần quản lý nguồn cá, nước và thức ăn sống cùng nhau. Cỡ 1,5–2 cm là một mốc phân nhóm, chưa nói cá đã sẵn cho mọi cách vận chuyển hoặc nuôi tiếp.
Chuẩn bị trước lúc nhận cá
Ao hoặc bể cần được chuẩn bị theo quy trình, kiểm nguồn nước, sinh vật không mong muốn và khả năng cấp khí. Xác nhận nguồn cá cùng thời điểm bắt đầu cần mồi. Không chờ cá đã đói mới tìm nguồn thức ăn sống.
Mật độ, hình ao và dụng cụ thu phải phù hợp năng lực theo dõi. Bố trí mã lô và cách đếm hoặc ước số có căn cứ. Nếu số cá đầu vào không rõ, cuối đợt khó biết tỷ lệ sống và lượng mồi phù hợp.
Chọn cỡ mồi theo khả năng bắt ăn
Luân trùng và Moina, thường gọi trứng nước, có vai trò khác nhau theo giai đoạn và cỡ. Nghiên cứu trên cá tra bột đã thử luân trùng trong những ngày đầu rồi dùng Moina. Kết quả cho thấy loại thức ăn sống cần được chọn theo khả năng sử dụng thực.
Không lấy số ngày hoặc mật độ mồi trong một thí nghiệm làm lịch chung cho mọi ao. Theo dõi cá bắt mồi và tăng trưởng, kết hợp quy trình của cơ sở có chuyên môn. Mồi xuất hiện dày nhưng không vừa miệng vẫn có thể không giúp cá nhận đủ.
Nguồn Moina và trùn chỉ cần kiểm soát
Ghi nguồn, cách nuôi hoặc thu, chất nền và xử lý trước khi đưa vào. Mồi sống từ nơi ô nhiễm có thể mang chất bất lợi hoặc sinh vật không mong muốn. Rửa không tự loại hết mọi nguy cơ.
Không coi trùn chỉ là bước bắt buộc cho tất cả giai đoạn. Nếu dùng, phải đánh giá cỡ, chất lượng và mục tiêu. Phần mồi chết, dư hoặc chất nền đi kèm có thể làm nước thay đổi nhanh.
Quan sát cá và nước trong ngày
Ghi vị trí tập trung của đàn, mức ăn, chênh lệch kích cỡ, cá yếu và chết. Đo nước theo biến động, không chỉ lúc thuận tiện. Khi nhiều cá không bắt mồi, kiểm tra cả oxy, nhiệt độ và chất lượng mồi trước khi tăng lượng.
Việc chuyển sang thức ăn chế biến cần theo khả năng tiếp nhận của cá và quy trình đã kiểm. Không đổi toàn bộ đột ngột chỉ vì tới một ngày cố định. Có cách thu phần dư để không tích chất thải.
Đánh giá đầu ra trước chuyển tiếp
Kiểm sự đồng đều cỡ, nguyên vẹn, khả năng ăn và tình trạng sức khỏe. Ghi số xuất và hao hụt theo lô. Đừng dùng chiều dài trung bình để che một nhóm nhiều con nhỏ yếu.
Chuẩn bị cách thu, giữ và vận chuyển phù hợp để không mất kết quả ương ở khâu sau. Khi bệnh hoặc hao hụt tăng, lấy mẫu theo hướng dẫn thay vì tự thay nhiều hóa chất. Nhật ký giúp tìm vấn đề là mồi, nước, nguồn cá hay thao tác.
Bảng kiểm tra tại ao nuôi
| Giai đoạn công việc | Cần xác nhận |
|---|---|
| Trước nhận | Nước; nơi ương; mồi sẵn; số đầu vào |
| Trong ương | Mồi vừa cỡ; cá ăn; nước và hao hụt |
| Trước chuyển | Đồng đều; sức khỏe; số xuất; phương án vận chuyển |
Tài liệu tham khảo
- Nghiên cứu sử dụng luân trùng cho cá tra bột, sau đó chuyển sang Moina
- Nghiên cứu Moina ở các ao ương cá tra tại Đồng bằng sông Cửu Long
Bài mới nhất
Đang tải bài mới...






0 nhận xét:
Đăng nhận xét