ĐO ĐỂ HIỂUHIỂU ĐỂ CHỦ ĐỘNG

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026

An toàn sinh học trong vụ nuôi tôm: thức ăn, nguồn nước và bùn đáy

An toàn sinh học trong vụ nuôi tôm: thức ăn, nguồn nước và bùn đáy

Ao nuôi và hệ thống quản lý nước

BÀI 47 / 50 · KIẾN THỨC NUÔI TÔM

Trong khu nuôi tôm, cua, còng, tôm hoang và nhiều loài giáp xác khác có thể tạo ra những con đường nối giữa môi trường ngoài với ao nuôi.

WSSV có phổ vật chủ rộng trong các loài giáp xác, vì vậy việc hạn chế động vật thủy sinh không kiểm soát đi vào hệ thống là một nguyên tắc an toàn sinh học hợp lý.

Rào quanh ao

Có thể sử dụng rào phù hợp để hạn chế cua, còng và động vật bò từ bên ngoài vào ao.

Lưới/chắn chim

Ở những khu vực có nguy cơ, hệ thống dây hoặc lưới có thể hạn chế chim tiếp cận tôm yếu, tôm chết rồi di chuyển sang ao khác.

[Hình 12.10. Các hàng rào cơ học trong khu nuôi: lưới lọc nước – rào cua/còng – lưới/dây hạn chế chim.]

“DIỆT TẠP” KHÔNG PHẢI LÀ ĐỔ HÓA CHẤT THEO CÔNG THỨC

Cá và sinh vật không mong muốn trong ao lắng có thể cần được kiểm soát.

Nhưng không nên đưa saponin 10–15 ppm hay rotenone 3–10 ppm thành công thức chung.

Hiệu quả và an toàn phụ thuộc

  • sản phẩm
  • hàm lượng hoạt chất
  • loài sinh vật cần kiểm soát
  • nhiệt độ
  • độ mặn
  • thời gian từ xử lý đến sử dụng nước.

Quan trọng nhất là nước sau xử lý phải đạt điều kiện an toàn trước khi đưa sang ao có tôm.

QUẢN LÝ THỨC ĂN

Thức ăn có thể vừa là nguồn dinh dưỡng, vừa trở thành một đường đưa rủi ro vào hệ thống.

Thức ăn công nghiệp

Nên sử dụng thức ăn

  • có nguồn gốc rõ ràng
  • phù hợp giai đoạn tôm
  • được bảo quản khô ráo
  • còn hạn
  • không mốc
  • không đổi mùi
  • bao bì không bị ẩm hoặc hư hỏng.

Việc quản lý thức ăn thủy sản hiện thuộc phạm vi của Thông tư 16/2026/TT-BNNMT.

Có cần bổ sung beta-glucan và vitamin C cho mọi ao?

Beta-glucan, vitamin C và nhiều chất bổ sung dinh dưỡng có thể có vai trò trong các chương trình dinh dưỡng nhất định.

Nhưng một thức ăn hoàn chỉnh thường đã được xây dựng theo công thức dinh dưỡng.

Vì vậy

Không phải càng bổ sung nhiều chất “tăng miễn dịch” thì tôm càng khỏe.

Việc bổ sung cần dựa vào mục tiêu, thành phần thức ăn đang sử dụng và bằng chứng của sản phẩm.

THỨC ĂN TƯƠI SỐNG – MỘT ĐƯỜNG RỦI RO ĐÁNG CHÚ Ý

Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng ở tôm bố mẹ và trại giống.

Các loại thức ăn tươi như

  • giun nhiều tơ
  • nhuyễn thể
  • giáp xác
  • các động vật thủy sinh khác

có thể mang hoặc chứa tác nhân gây bệnh.

Đối với EHP, các sinh vật dùng làm thức ăn tươi như polychaete đã được xem là một nguồn nguy cơ cần kiểm soát.

[Hình 12.11. Đường nguy cơ từ thức ăn tươi sống → tôm bố mẹ → trại giống → hậu ấu trùng.]

Không nên viết một công thức chung như

“70°C hoặc -20°C là chắc chắn sạch mọi mầm bệnh”.

Mỗi phương pháp xử lý có hiệu quả khác nhau với từng tác nhân.

Nguyên tắc nên là

nguồn thức ăn được kiểm soát + xử lý đã được thẩm định + bảo quản đúng + tránh tái nhiễm sau xử lý.

QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NƯỚC TRONG VỤ NUÔI

Một hệ thống an toàn sinh học tốt vẫn có thể thất bại nếu môi trường làm tôm stress kéo dài.

Cần theo dõi các thông số phù hợp, trong đó có

  • DO
  • pH
  • nhiệt độ
  • độ mặn
  • độ kiềm
  • TAN/NH₃
  • NO₂⁻
  • tảo
  • chất hữu cơ
  • tình trạng đáy.

TCVN 13656: 2023 là tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng nước nuôi thâm canh tôm sú và tôm thẻ chân trắng.

[Hình 12.12. Bảng theo dõi chất lượng nước trong suốt vụ nuôi và xu hướng biến động theo thời gian.]

Mục tiêu không phải chỉ là “không vượt ngưỡng”, mà là

giữ hệ thống ổn định và phát hiện xu hướng xấu trước khi con tôm biểu hiện bệnh.

CHẾ PHẨM SINH HỌC CÓ PHẢI LÀ MỘT HÀNG RÀO AN TOÀN SINH HỌC?

Probiotic và các vi sinh vật có lợi có thể được sử dụng trong nhiều hệ thống nhằm hỗ trợ:

  • quản lý chất hữu cơ
  • chuyển hóa dinh dưỡng
  • ổn định một số thành phần của hệ vi sinh
  • hỗ trợ sức khỏe tôm tùy chủng và sản phẩm.

Nhưng không nên viết

“định kỳ dùng BIDI-AQUA để ức chế Vibrio”.

Một chế phẩm sinh học chỉ có ý nghĩa khi

  • chứa đúng chủng
  • đủ tế bào sống
  • được bảo quản đúng
  • được sử dụng trong điều kiện phù hợp
  • có bằng chứng cho mục đích sử dụng.

Đặc biệt

Probiotic không thay thế được con giống sạch, nước an toàn hay hệ thống kiểm soát dịch bệnh.

QUẢN LÝ BÙN ĐÁY VÀ CHẤT HỮU CƠ

Trong quá trình nuôi

thức ăn → tôm → phân + thức ăn dư + xác tảo → đáy ao.

Nếu lượng vật chất này tích tụ nhanh hơn khả năng thu gom và phân hủy, đáy ao dần trở thành một “kho chất hữu cơ”.

[Hình 12.13. Dòng chất hữu cơ từ thức ăn đến bùn đáy trong ao tôm.]

Hậu quả có thể gồm

  • oxy đáy giảm
  • vùng yếm khí tăng
  • ammonia/sulfide trở thành vấn đề
  • hệ vi sinh thay đổi
  • tôm dễ bẩn mang và vỏ
  • môi trường ngày càng khó quản lý.

1. Xi-phông

Trong ao được thiết kế có hố gom, xi-phông giúp đưa chất thải ra khỏi hệ thống thay vì để chúng tiếp tục phân hủy trong ao.

[Hình 12.14. Nguyên lý gom và xi-phông chất thải ra khỏi ao.]

Không nhất thiết mọi ao đều phải

“xi-phông đúng một lần mỗi ngày”.

Tần suất phụ thuộc

  • mật độ
  • lượng thức ăn
  • sinh khối
  • thiết kế đáy
  • khả năng gom chất thải.

Ao càng thâm canh, tải hữu cơ càng cao thì yêu cầu quản lý càng chặt.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét