BÀI 15 / 50 · KIẾN THỨC NUÔI TÔM Không phải bệnh vi khuẩn nào cũng bắt đầu từ gan tụy hay đường ruột. Vỏ, mang, chân, râu và các phần phụ của tôm cũng có thể bị tổn thương. Mang khỏe thường sạch và có màu sắc tương đối đồng đều. Khi mang chuyển nâu hoặc đen, bà con thường gọi chung là đen mang. Đen mang không phải tên của một bệnh duy nhất. Nếu mang bị bám bẩn hoặc tổn thương nặng, khả năng trao đổi khí của tôm có thể bị ảnh hưởng. Vì vậy, khi thấy đen mang, cần kiểm tra cả con tôm lẫn môi trường, thay vì chỉ tìm thuốc trị mang. Khi lớp vỏ bị tổn thương, một số vi khuẩn có khả năng phân giải chitin có thể tham gia vào quá trình làm tổn thương lan rộng. Màu đen nhìn thấy thường liên quan đến phản ứng melan hóa của tôm tại vùng bị tổn thương, không đơn giản là màu của vi khuẩn. Hội chứng phân trắng – White Feces Syndrome (WFS) – thường được bà con nhận ra khi xuất hiện các dây phân màu trắng hoặc trắng vàng nổi trên mặt nước hoặc tập trung ở khu vực gom chất thải. WFS không nên được xếp đơn giản là một bệnh do Vibrio. Các nghiên cứu cho thấy hội chứng này có thể liên quan đến sự tương tác của nhiều yếu tố, bao gồm: Thấy phân trắng không có nghĩa là đã xác định được vi khuẩn gây bệnh. Phần WFS sẽ được trình bày chi tiết hơn trong chương về các hội chứng và rối loạn thường gặp. Translucent Post-Larvae Disease (TPD) là một bệnh mới nổi đáng chú ý ở hậu ấu trùng tôm thẻ chân trắng, đặc biệt trong hệ thống sản xuất giống. Các nghiên cứu đã xác định một số chủng Vibrio parahaemolyticus có độc lực cao liên quan đến bệnh này. Do kích thước hậu ấu trùng rất nhỏ, hình ảnh quan sát dưới kính hiển vi hoặc kính soi nổi sẽ có giá trị hơn ảnh chụp bằng mắt thường. Đây là bệnh mới nổi nên thông tin về tác nhân, độc lực, dịch tễ và biện pháp kiểm soát vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu. Khi tôm có đường ruột bất thường, bà con thường gọi chung là “bệnh đường ruột”. Tuy nhiên, đây không phải một bệnh duy nhất. Vi khuẩn cơ hội có thể tham gia vào một số trường hợp, nhưng cũng cần kiểm tra đồng thời: Khi tôm đỏ thân, gan tụy bất thường, đường ruột rỗng hoặc chết tăng, không nên bắt đầu bằng câu hỏi “dùng kháng sinh gì?”. Hãy bắt đầu bằng việc tìm nguyên nhân. Bước 1. Kiểm tra môi trường Kiểm tra DO, pH, nhiệt độ, độ mặn, độ kiềm, NH₃, NO₂⁻ và các thông số cần thiết khác. Quan sát màu nước, tảo, bùn đáy và lượng chất hữu cơ. Bước 2. Kiểm tra thức ăn và sức ăn Xem lượng thức ăn dư, biến động sức ăn trong những ngày gần đây và chất lượng thức ăn đang sử dụng. Bước 3. Kiểm tra tôm mang → vỏ → cơ → gan tụy → dạ dày → đường ruột → phân. Bước 4. Lấy mẫu Bước 5. Xác định nguyên nhân trước khi điều trị Việc phát hiện một loài Vibrio không tự động chứng minh rằng chính vi khuẩn đó là nguyên nhân gây bệnh. Cần xem xét đồng thời triệu chứng, tổn thương, số lượng và đặc tính của vi khuẩn, môi trường và kết quả xét nghiệm. Bước 6. Chỉ sử dụng thuốc khi thực sự cần thiết Kháng sinh không nên được sử dụng để “phòng bệnh định kỳ” hoặc chỉ vì xét nghiệm nước thấy có Vibrio. Khi cần sử dụng thuốc thú y thủy sản, phải lựa chọn sản phẩm được phép sử dụng và tuân thủ hướng dẫn chuyên môn, liều lượng, thời gian sử dụng và thời gian ngừng thuốc. Cuối phần này nên bố trí một bảng ảnh để bà con dễ đối chiếu. Có Vibrio trong ao chưa chắc tôm bị bệnh. Gan tụy nhạt chưa chắc là AHPND. Đen mang chưa chắc do vi khuẩn. Phân trắng không phải một bệnh do Vibrio đơn thuần. Kháng sinh không phải giải pháp đầu tiên mỗi khi tôm giảm ăn. Điều quan trọng nhất vẫn là: kiểm tra môi trường → quan sát tôm → xác định tác nhân → tìm nguyên nhân → rồi mới lựa chọn biện pháp xử lý.Nhiễm khuẩn mang, vỏ và đường ruột ở tôm

1. Đen mang
Nguyên nhân có thể liên quan đến
2. Đốm đen và ăn mòn vỏ
Bà con có thể thấy
MỘT SỐ BỆNH VÀ HỘI CHỨNG LIÊN QUAN ĐẾN VI KHUẨN
1. Hội chứng phân trắng – WFS
Do đó
2. Bệnh mờ đục hậu ấu trùng – TPD
Dấu hiệu
Hậu ấu trùng bệnh có thể
3. Các vấn đề nhiễm khuẩn đường ruột
Tôm có thể biểu hiện
KHI NGHI TÔM BỊ BỆNH DO VI KHUẨN, NÊN LÀM GÌ?
Quan sát
Tùy bệnh nghi ngờ có thể cần
PHÂN BIỆT NHANH MỘT SỐ BỆNH DO VI KHUẨN
BÀ CON CẦN NHỚ
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVISo sánh mang tôm khỏe và mang tôm bị sẫm màu, đen mang.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVICác tổn thương dạng đốm đen, ăn mòn vỏ và mòn phần phụ trên tôm.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVIMinh họa quá trình tổn thương vỏ → vi sinh vật xâm nhập → phản ứng melan hóa → hình thành vùng màu nâu đen.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVICác dây phân trắng xuất hiện trong ao tôm mắc hội chứng phân trắng.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVISơ đồ các yếu tố có thể liên quan đến hội chứng phân trắng: EHP – hệ vi sinh đường ruột – Vibrio – gan tụy – môi trường.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVISo sánh hậu ấu trùng tôm khỏe và hậu ấu trùng có biểu hiện mờ đục trong TPD.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVIHậu ấu trùng mắc TPD quan sát dưới kính soi, thể hiện sự thay đổi ở gan tụy và đường tiêu hóa.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVISo sánh đường ruột chứa thức ăn tương đối liên tục ở tôm khỏe với một số dạng đường ruột bất thường.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVIMinh họa các vị trí và loại mẫu thường được sử dụng khi kiểm tra bệnh vi khuẩn trên tôm.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVISơ đồ xử lý khi nghi bệnh vi khuẩn: Phát hiện bất thường → Kiểm tra môi trường → Kiểm tra tôm → Lấy mẫu → Xác định tác nhân → Đánh giá nguyên nhân → Lựa chọn biện pháp phù hợp → Theo dõi.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVIBảng ảnh so sánh nhanh: AHPND – gan tụy nhạt và teo; Vibriosis – đỏ thân và tổn thương vỏ; bệnh phát sáng – phát quang trong điều kiện tối; NHP – gan tụy teo và tôm gầy; TPD – hậu ấu trùng mờ đục.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.






0 nhận xét:
Đăng nhận xét