BÀI 45 / 50 · KIẾN THỨC NUÔI TÔM Vì có thể làm môi trường biến động và khó xác định nguyên nhân thực sự. Kháng sinh chỉ có vai trò với một số bệnh vi khuẩn phù hợp, không phải mọi bệnh. Cần xác định tác nhân và bệnh cảnh. Không thấy phân trắng là trộn ngay một “phác đồ phân trắng” WFS là hội chứng đa yếu tố. Nếu nguyên nhân là EHP, mật độ hoặc khả năng hấp thu, việc tăng thức ăn có thể chỉ làm đáy ao xấu hơn. Không thay lượng lớn nước mà không kiểm tra nước cấp Nước mới không chắc tốt hơn nước đang có. Nguy cơ làm mầm bệnh lan sang khu vực khác. “Gấp đôi liều để diệt cho chắc” có thể làm tổn thương tôm và hệ sinh thái ao. Tên sản phẩm không phải là tên nguyên nhân. Đây nên là một trang bà con có thể mở ra và làm theo ngay. DO – nhiệt độ – pH – độ mặn, sau đó mở rộng sang các chỉ tiêu liên quan. Chọn con yếu còn sống. vỏ – mang – cơ – gan tụy – dạ dày – ruột. Lấy mẫu trước khi làm hàng loạt can thiệp có thể ảnh hưởng kết quả, nếu điều kiện cho phép. Thiếu oxy → ưu tiên oxy. Thức ăn dư → điều chỉnh lượng ăn. Nước có vấn đề → xử lý đúng vấn đề. Nghi bệnh truyền nhiễm → cách ly nguy cơ + xét nghiệm. Tôm chết tăng hay giảm? Sức ăn tốt hơn hay xấu hơn? Môi trường ổn định chưa? Có thêm triệu chứng mới không? Đã có kết quả xét nghiệm chưa? Nếu tình trạng xấu đi, phải đánh giá lại chẩn đoán ban đầu, chứ không chỉ tăng liều biện pháp đã dùng. Điều bà con cần tránh nhất khi tôm bệnh không phải là “không dùng đủ thuốc”, mà là làm quá nhiều thứ khi chưa biết mình đang xử lý vấn đề gì. Một ao tôm đang bất ổn cần được đưa trở lại trạng thái ổn định từng bước. Khi nguyên nhân được xác định rõ, biện pháp xử lý mới có cơ sở và khả năng thành công cao hơn.Quy trình 6 giờ đầu khi tôm có dấu hiệu bất thường

Không đánh nhiều loại hóa chất liên tiếp
Không dùng kháng sinh “đón đầu”
Không thấy Vibrio là kết luận vibriosis
Không thấy tôm còi là tăng thức ăn
Không xả nước nghi nhiễm bệnh ra kênh chung
Không tự tăng liều hóa chất
Không dùng sản phẩm thương mại thay cho chẩn đoán
QUY TRÌNH 6 GIỜ ĐẦU KHI TÔM BẤT THƯỜNG
BƯỚC 1 – NHÌN AO
Tôm ở đâu? Có nổi đầu không? Nước có đổi màu không? Có tôm chết tăng không?
BƯỚC 2 – ĐO NƯỚC
Ưu tiên
BƯỚC 3 – BẮT TÔM KIỂM TRA
Kiểm tra
BƯỚC 4 – GHI LẠI
Ghi
BƯỚC 5 – LẤY MẪU NẾU NGHI BỆNH
BƯỚC 6 – CHỈ XỬ LÝ NHỮNG GÌ ĐÃ CÓ CƠ SỞ
SAU 24 GIỜ – ĐÁNH GIÁ LẠI
Sau một ngày, cần trả lời được
NGUYÊN TẮC VÀNG KHI TÔM CÓ DẤU HIỆU BỆNH
Cứu môi trường trước nếu tôm đang gặp nguy hiểm tức thời.
Đừng dùng triệu chứng để đoán thuốc.
Lấy mẫu sớm khi nghi bệnh truyền nhiễm.
Không tạo thêm biến động lớn cho một đàn tôm đang stress.
Điều chỉnh thức ăn theo sức ăn, không theo một tỷ lệ cố định.
Không thay nước chỉ vì “bệnh thì phải thay nước”.
Virus không trị bằng kháng sinh.
EHP hiện chưa có thuốc đặc hiệu được công nhận.
Phân trắng không có một phác đồ chung cho mọi ao.
Ao bệnh phải được xem là nguy cơ đối với toàn bộ khu nuôi.
Theo dõi số tôm chết theo ngày quan trọng hơn chỉ ghi “có tôm chết”.
Kết quả xét nghiệm phải được đọc cùng môi trường và triệu chứng.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVI“9 điều không nên làm” khi tôm vừa xuất hiện dấu hiệu bệnh.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVIInfographic “6 giờ đầu khi tôm có dấu hiệu bất thường”.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVIVòng lặp quản lý: Xử lý → Theo dõi → Đánh giá → Điều chỉnh → Theo dõi lại.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVISơ đồ tổng kết: Ổn định → Khoanh vùng → Xác nhận → Xử lý → Theo dõi → Ngăn tái phát.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.






0 nhận xét:
Đăng nhận xét