BÀI 11 / 50 · KIẾN THỨC NUÔI TÔM Vi khuẩn hiện diện tự nhiên trong nước, bùn đáy, thức ăn và cả đường tiêu hóa của tôm. Vì vậy, phát hiện vi khuẩn trong ao không đồng nghĩa ao đang có bệnh. Nhiều vi khuẩn chỉ trở thành vấn đề khi môi trường xấu đi, chất hữu cơ tích tụ, oxy thấp, tôm bị stress hoặc sức khỏe suy giảm. Tuy nhiên, cũng có những chủng vi khuẩn mang các yếu tố độc lực đặc biệt có khả năng gây bệnh nghiêm trọng, điển hình là vi khuẩn gây bệnh hoại tử gan tụy cấp tính – AHPND. Vi khuẩn có hại + điều kiện thuận lợi + tôm suy yếu → nguy cơ bệnh tăng. Một nguyên tắc quan trọng trong phần này là không nhìn thấy Vibrio rồi vội dùng kháng sinh. Cần xác định loài/chủng, tình trạng đàn tôm, tổn thương và nguyên nhân thực sự trước khi quyết định biện pháp can thiệp. Bệnh hoại tử gan tụy cấp tính, tiếng Anh là Acute Hepatopancreatic Necrosis Disease (AHPND), từng được gọi trong giai đoạn đầu là Early Mortality Syndrome – EMS. Tuy nhiên, hai khái niệm này không hoàn toàn đồng nghĩa. EMS là thuật ngữ ban đầu dùng để mô tả hiện tượng tôm chết sớm, còn AHPND là bệnh đã xác định được cơ chế và tác nhân cụ thể. Tác nhân AHPND đầu tiên được xác định là một số chủng Vibrio parahaemolyticus mang plasmid chứa các gen độc tố PirA và PirB. Sau đó, khả năng gây AHPND cũng được phát hiện ở một số loài Vibrio khác khi chúng mang các gen độc lực liên quan. Có Vibrio parahaemolyticus trong ao chưa chắc có AHPND. Quan trọng là vi khuẩn đó có phải chủng mang yếu tố độc lực gây AHPND hay không. Cơ quan chịu ảnh hưởng đặc biệt quan trọng là gan tụy. Gan tụy của tôm đảm nhiệm nhiều chức năng liên quan đến tiêu hóa, hấp thu và dự trữ dinh dưỡng. Khi cơ quan này bị tổn thương nặng, tôm nhanh chóng giảm ăn, suy yếu và có thể chết. Khi quan sát tôm khỏe, gan tụy thường có cấu trúc rõ và đường ruột chứa thức ăn. Ở tôm bệnh nặng, gan tụy có thể teo và nhạt màu, trong khi dạ dày và ruột gần như rỗng. Gan tụy nhạt màu không đồng nghĩa với AHPND. EHP, NHP, dinh dưỡng không phù hợp, tôm bỏ ăn kéo dài và nhiều vấn đề khác cũng có thể làm gan tụy thay đổi. Gan tụy teo + nhạt + ruột rỗng → nghi ngờ AHPND → cần xét nghiệm xác nhận. Không nên bỏ qua bước cuối cùng. AHPND nổi tiếng vì có thể gây thiệt hại ở giai đoạn tương đối sớm của vụ nuôi, nhưng không nên hiểu rằng bệnh chỉ xảy ra trong 30 hoặc 35 ngày đầu. Tuổi tôm chỉ là một thông tin để hỗ trợ chẩn đoán, không phải tiêu chí loại trừ bệnh. Việc xác định AHPND cần tập trung vào chủng vi khuẩn gây bệnh và các gen độc lực liên quan, kết hợp với biểu hiện lâm sàng và tổn thương đặc trưng của gan tụy. PCR/qPCR và mô bệnh học là những công cụ quan trọng. Không có một loại thảo dược, probiotic hay hóa chất nào có thể được xem là “thuốc đặc trị AHPND”. Một số chủng Bacillus, probiotics, thảo dược và hoạt chất tự nhiên đã cho kết quả triển vọng trong các nghiên cứu thực nghiệm. Tuy nhiên, kết quả trong phòng thí nghiệm không đồng nghĩa chắc chắn đạt hiệu quả tương tự ngoài ao. Vì vậy, không nên lấy một tỷ lệ sống từ nghiên cứu thực nghiệm rồi quảng bá thành hiệu quả điều trị ngoài thực tế.Bệnh hoại tử gan tụy cấp ở tôm (AHPND)

Có thể hình dung đơn giản
Bệnh hoại tử gan tụy cấp tính – AHPND
Tác nhân
Điều này có nghĩa
Bệnh gây tổn thương ở đâu?
Dấu hiệu bà con có thể quan sát
Tôm mắc AHPND có thể
Một điều rất dễ nhầm
Vì vậy
Khi nào bệnh thường xuất hiện?
Chẩn đoán
Phòng và kiểm soát
Các biện pháp quan trọng hơn gồm
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVISơ đồ mối quan hệ giữa chất lượng nước, chất hữu cơ, sức khỏe tôm và sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh trong ao nuôi.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVIMinh họa sự khác nhau giữa Vibrio thông thường và chủng Vibrio mang plasmid chứa gen độc tố PirA/PirB có khả năng gây AHPND.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVISo sánh gan tụy và đường ruột của tôm khỏe với tôm có biểu hiện nghi AHPND.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVITôm nghi AHPND với gan tụy nhạt màu, teo và đường tiêu hóa rỗng.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVIMinh họa tổn thương mô gan tụy điển hình trong AHPND và nguyên tắc lấy mẫu phục vụ xét nghiệm.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.






0 nhận xét:
Đăng nhận xét