BÀI 38 / 50 · KIẾN THỨC NUÔI TÔM Khi tôm bắt đầu giảm ăn, bơi bất thường, gan tụy đổi màu hoặc xuất hiện tôm chết, câu hỏi đầu tiên của người nuôi thường là: “Tôm bị bệnh gì?” Nhưng trong thực tế, đây lại là câu hỏi không thể trả lời chính xác chỉ bằng một dấu hiệu bên ngoài. Tôm bỏ ăn có thể do thiếu oxy, NH₃, biến động độ mặn, AHPND, WSSV hoặc nhiều nguyên nhân khác. Gan tụy nhạt có thể gặp ở AHPND nhưng cũng xuất hiện trong EHP, NHP, DIV1 hoặc khi tôm giảm ăn kéo dài. Trắng cơ có thể liên quan đến IMNV nhưng cũng có thể xuất hiện sau stress môi trường. Quan sát ao → kiểm tra môi trường → kiểm tra tôm → khoanh vùng nguyên nhân → lấy mẫu đúng → lựa chọn xét nghiệm → đối chiếu kết quả → kết luận. Triệu chứng giúp chúng ta nghi ngờ. Xét nghiệm giúp tìm tác nhân. Nhưng chẩn đoán đúng phải đặt cả hai trong điều kiện thực tế của ao. Chẩn đoán nên bắt đầu từ cái ao, trước khi bắt đầu mổ hoặc xét nghiệm từng con tôm. Người trực tiếp chăm ao thường là người có khả năng nhận ra bất thường sớm nhất, bởi họ biết đàn tôm ngày hôm qua ăn thế nào, hôm nay bơi ra sao và nước vừa có thay đổi gì. Sức ăn là một trong những chỉ báo sức khỏe có giá trị nhất. Nếu một đàn tôm đang ăn ổn định bỗng giảm ăn rõ trong vài cữ liên tiếp, cần tìm nguyên nhân ngay. Giảm ăn có thể gặp trong nhiều bệnh như WSSV, AHPND và các bệnh truyền nhiễm khác, nhưng cũng thường xảy ra khi DO thấp hoặc môi trường thay đổi. Riêng bệnh đầu vàng đã được mô tả có thể xuất hiện giai đoạn tăng ăn bất thường trước khi sức ăn giảm mạnh. Đừng chỉ hỏi hôm nay tôm ăn bao nhiêu. Hãy hỏi hôm nay tôm ăn khác hôm qua như thế nào. Tôm khỏe thường phản ứng nhanh khi bị tác động. Tôm dạt bờ chưa chắc bị virus. Nếu nhiều tôm cùng nổi gần sáng, việc đầu tiên nên làm là đo DO, không phải tìm thuốc trị bệnh. “Hôm nay có tôm chết.” Một bệnh cấp tính có thể tạo đường cong chết tăng rất nhanh, trong khi bệnh mạn tính hoặc sự cố môi trường kéo dài có thể tạo kiểu chết rải rác. Chim tập trung nhiều quanh ao có thể là một dấu hiệu gián tiếp cho thấy có tôm yếu hoặc tôm chết dễ bị bắt. “nhiều chim = WSSV hoặc TSV”. Chim có thể xuất hiện vì nhiều lý do. Điều đáng quan tâm hơn là nếu lượng chim tăng bất thường, hãy kiểm tra xem có tôm yếu, nổi mặt hoặc dạt bờ hay không. Đây là bước không nên bỏ qua. Nhiều trường hợp nhìn rất giống bệnh truyền nhiễm nhưng nguyên nhân thực tế lại nằm ở môi trường. Tôm nổi đầu→ có thể do DO thấp. Tôm giảm ăn sau mưa→ có thể liên quan pH, nhiệt độ, độ mặn hoặc kiềm thay đổi. Tôm yếu dù DO cao→ cần xem thêm NO₂⁻ và các yếu tố khác. Tôm chết đáy→ cần kiểm tra cả môi trường đáy và bệnh. Không nên dùng một bộ ngưỡng cố định cho mọi ao rồi kết luận “đạt/không đạt”, vì độc tính và mức thích hợp còn phụ thuộc độ mặn, nhiệt độ, pH, tuổi tôm và hệ thống nuôi. Một lỗi rất thường gặp là người nuôi muốn kiểm tra bệnh nhưng lại chọn những con đẹp và khỏe nhất trong vó. Trong chẩn đoán, đó chưa chắc là mẫu có giá trị nhất. Tôm đã chết lâu, phân hủy hoặc bị các động vật khác ăn thường có giá trị chẩn đoán thấp hơn. Nếu đàn có nhiều dạng bất thường khác nhau, nên lấy nhiều nhóm mẫu, thay vì chỉ chọn một kiểu. Toàn thân → Vỏ → Mang → Cơ → Gan tụy → Dạ dày → Đường ruột → Phân. Gan tụy là một trong những cơ quan cần quan sát đầu tiên khi tôm giảm ăn hoặc tăng trưởng bất thường. AHPND đặc biệt gây tổn thương biểu mô ống gan tụy; việc xác nhận bệnh cần dựa trên tổn thương đặc trưng và phát hiện tác nhân/độc tố liên quan chứ không chỉ nhìn màu gan. WOAH cũng phân biệt AHPND với khái niệm EMS rộng hơn. Gan tụy nhạt là một manh mối, không phải tên bệnh. tôm không ăn hoặc ăn rất ít. Sau đó mới tìm nguyên nhân vì sao. Đường thức ăn bị gián đoạn có thể liên quan đến ăn không đều hoặc hoạt động tiêu hóa bất thường. Không nên xem ruột đứt khúc là dấu hiệu đặc hiệu của EHP. EHP có thể liên quan đến WFS nhưng không phải mọi trường hợp WFS đều do EHP; WOAH cũng ghi nhận EHP chủ yếu liên quan đến chậm tăng trưởng và phân đàn. Các đốm trắng nằm trong lớp vỏ khiến người nuôi nghĩ ngay đến WSSV. Đúng là đây là một dấu hiệu quan trọng. Đốm trắng không đủ để chẩn đoán WSSV. WSSV là tác nhân được WOAH quản lý riêng và việc xác định nhiễm phải sử dụng phương pháp chẩn đoán phù hợp theo Aquatic Manual. Các dấu hiệu này có thể liên quan đến tổn thương cơ học, vi khuẩn, nấm và môi trường. Mang đen, nâu hoặc bẩn không phải một bệnh riêng. Đây là lý do soi tươi mang đặc biệt có giá trị. Cơ bụng tôm khỏe thường có độ trong tương đối. IMNV là một trong những tác nhân cần được xét nghiệm khi có bệnh cảnh phù hợp, nhưng trắng cơ không đồng nghĩa IMNV.Cách kiểm tra tôm bất thường ngoài ao theo một thứ tự cố định
Vì vậy, chẩn đoán bệnh trên tôm nên đi theo một chuỗi
Điều quan trọng nhất cần nhớ
QUAN SÁT TỪ AO NUÔI – ĐỪNG VỘI BẮT TÔM LÊN RỒI MỚI TÌM BỆNH
1. Theo dõi sức ăn
Cần chú ý
2. Quan sát cách tôm bơi
Những biểu hiện cần chú ý
Nhưng
3. Quan sát số lượng tôm chết
Không chỉ ghi
Hãy ghi
4. Chim quanh ao có phải dấu hiệu bệnh?
Nhưng không nên coi
KIỂM TRA MÔI TRƯỜNG TRƯỚC KHI KẾT LUẬN BỆNH
Ví dụ
Những thông số cần ưu tiên
Tùy tình huống, nên kiểm tra
CHỌN TÔM ĐỂ KIỂM TRA – ĐỪNG CHỈ BẮT CON ĐẸP NHẤT
Nên ưu tiên những con
KIỂM TRA TÔM THEO MỘT THỨ TỰ CỐ ĐỊNH
Một cách đơn giản để tránh bỏ sót là kiểm tra theo thứ tự
KIỂM TRA GAN TỤY
Quan sát
Gan tụy teo và nhạt
Có thể liên quan đến
KIỂM TRA ĐƯỜNG RUỘT VÀ PHÂN
Ruột rỗng
Ruột rỗng trước hết nói lên rằng
Có thể là
Ruột không liên tục
Phân trắng
Nếu thấy dây phân trắng trong ao, cần ghi nhận
KIỂM TRA VỎ
Đốm trắng
Nhưng
Cần xem đồng thời

Vết đen và tổn thương vỏ
Quan sát
KIỂM TRA MANG
Quan sát mang về
KIỂM TRA CƠ
Nếu xuất hiện trắng cơ hoặc đục cơ, cần ghi lại

SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVISơ đồ tổng quát quy trình chẩn đoán bệnh trên tôm: Ao nuôi → Môi trường → Tôm → Dấu hiệu → Xét nghiệm → Đối chiếu → Kết luận.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVIMinh họa theo dõi sức ăn qua vó và biểu đồ lượng thức ăn tiêu thụ theo ngày để phát hiện sự giảm ăn bất thường.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVIMột số kiểu phân bố bất thường của tôm trong ao: nổi mặt – dạt bờ – tập trung quanh vùng cấp oxy – nằm đáy.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVIMinh họa hai dạng diễn biến: chết cấp tính tăng nhanh và chết rải rác kéo dài.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVISơ đồ “Loại trừ môi trường trước”: DO – nhiệt độ – pH – độ mặn – độ kiềm – NH₃ – NO₂⁻ – H₂S – tảo – đáy ao.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVIMinh họa lựa chọn mẫu: tôm khỏe – tôm bệnh còn sống – tôm mới chết – tôm đã phân hủy; ưu tiên mẫu bệnh còn sống hoặc mới xuất hiện triệu chứng.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVISơ đồ giải phẫu đơn giản của tôm với các vị trí cần kiểm tra khi chẩn đoán bệnh.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVIGan tụy bình thường và một số dạng bất thường: nhạt – teo – sưng – đổi màu.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVISo sánh đường ruột đầy liên tục – ruột ít thức ăn – ruột rỗng – thức ăn trong ruột không liên tục.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.
SỔ TAY NUÔI TÔM · ENVISo sánh mang sạch – mang bám cặn – sinh vật bám – mang bị melan hóa.Sơ đồ biên tập từ nội dung tài liệu; không phải ảnh bệnh thực tế.






0 nhận xét:
Đăng nhận xét