Phụ phẩm gần nhà máy có thể giúp trại giảm tiền thức ăn. Tuy nhiên, một xe giá rẻ có thể mang theo nhiều nước, mất công bốc dỡ và hỏng trước khi đàn dùng hết. Cần tính cả phần dùng được thay vì chỉ hỏi giá mỗi tấn tươi.
Bã bia, bã đậu nành, bã dứa và vỏ ngô có nguồn gốc khác nhau. Chúng không thể thay thế lẫn nhau theo khối lượng tươi bằng nhau, cũng không nên ghép thành một công thức cố định cho mọi đàn bò.
1. Xác định đúng thứ đang được giao
Bã bia là phần nguyên liệu còn lại sau chế biến bia. Bã đậu nành ở cơ sở đậu phụ hoặc sữa đậu thường được gọi là okara; nó khác khô dầu đậu tương sau ép hoặc trích ly dầu.
“Bã dứa” có thể gồm vỏ, lõi, thịt quả hoặc hỗn hợp các phần với tỷ lệ khác nhau. “Vỏ ngô” cũng cần hỏi rõ là lá bao bắp, phụ phẩm ngô ngọt, hay hỗn hợp có lõi và hạt. Tên gọi quá chung làm dữ liệu dinh dưỡng không còn phù hợp.
Nghiên cứu về phụ phẩm dứa cho thấy các phần khác nhau có thành phần và đặc điểm lên men khác nhau; tác giả nhấn mạnh việc thu gom riêng, đúng cách. [1] Khi ký nguồn cung, mô tả cả thành phần vật lý và quy trình sản xuất.
2. So giá theo chất khô trước
Chất khô là phần thức ăn không tính nước. Ví dụ giả định, lô A giá giao tại trại 1.200 đồng/kg tươi, chất khô 20%. Giá mỗi kg chất khô là 1.200 ÷ 0,20 = 6.000 đồng.
Lô B giá 1.500 đồng/kg tươi nhưng có 30% chất khô. Giá mỗi kg chất khô là 1.500 ÷ 0,30 = 5.000 đồng. Lô B đắt hơn khi cân tươi nhưng rẻ hơn theo lượng chất khô mua được.
Alabama Extension hướng dẫn so phụ phẩm ướt trên cơ sở chất khô và tính các yêu cầu vận chuyển, kho, chất lượng. [2] Sau bước này vẫn phải so lượng đạm, năng lượng và thành phần cần thiết; một kg chất khô của hai loại không mặc nhiên có cùng giá trị.
3. Tính cả hao hụt và công sử dụng
Nếu lô A ở ví dụ trên mất 10% chất khô do hỏng và bỏ thừa, chi phí nguyên liệu mỗi kg chất khô dùng được tăng thành 6.000 ÷ 0,90 = khoảng 6.667 đồng. Tiền bốc dỡ, phủ bạt, xét nghiệm và xử lý phần hỏng còn phải cộng riêng.
Đây là phép tính giả định, không phải giá thị trường. Nó giúp trại thấy vì sao mua nhiều để được giảm tiền xe chưa chắc rẻ hơn mua lượng đủ dùng nhanh.
Lập bảng theo từng chuyến gồm khối lượng, giá, chất khô, ngày nhận, ngày dùng hết và phần loại bỏ. Sau vài lô, trại sẽ biết nguồn nào ổn định và điều kiện nào làm hao hụt tăng.
4. Hiểu vai trò riêng của bã bia
Bã bia có thể cung cấp đạm, chất xơ và năng lượng. Phần lớn tinh bột và đường đã được sử dụng trong quá trình chế biến, nên không xem bã bia như ngô hạt còn nguyên giá trị.
University of Florida mô tả bã bia tươi có độ ẩm cao, biến động thành phần và thời gian sử dụng ngắn hơn khi trời nóng. Tài liệu khuyến cáo lấy mẫu để xây dựng khẩu phần. [3]
Không mặc định bã bia luôn có đúng 24–28% đạm trên chất khô hoặc chắc chắn kích thích ăn mạnh. Kết quả phân tích lô và phản ứng đàn cần là cơ sở. Khi tỷ lệ dùng tăng, người làm dinh dưỡng còn phải kiểm tra tổng khoáng, chất béo và chất xơ của khẩu phần.
5. Bã đậu và phụ phẩm quả cần kiểm tra theo nguồn
Với bã đậu, cần biết nhà máy có xử lý nhiệt hay không, mức ép nước và có pha nguyên liệu khác không. Không dùng bảng của khô dầu đậu tương để tính lượng bã đậu tươi.
Nếu khẩu phần có urê, báo rõ nguồn đậu chưa xử lý cho chuyên gia vì men urease trong đậu sống có thể ảnh hưởng tốc độ giải phóng amoniac. Không tự cho thêm urê để tăng chỉ tiêu đạm của mẻ phụ phẩm.
Với dứa, mùi ngọt hoặc vị chua không chứng minh thức ăn an toàn hoặc giúp “làm mát dạ cỏ”. Nghiên cứu thành phần trong phòng thí nghiệm chỉ cho thấy tiềm năng sử dụng, chưa thay thế thử nghiệm năng suất và sức khỏe trên đàn. [1]
Vỏ, lõi và thân ngô cũng khác giá trị. Illinois mô tả bò chọn ăn các phần phụ phẩm ngô theo thứ tự khác nhau. [4] Do đó cần kiểm tra phần thừa, không chỉ tính thành phần đã đổ vào máng.
6. Nhận hàng theo một tiêu chuẩn rõ ràng
Kiểm tra nguồn gốc, ngày sản xuất, thời gian vận chuyển, mùi bất thường, dị vật và dấu hiệu hỏng. Nơi bốc hàng và xe cần tránh lẫn chất tẩy rửa, dầu, bao nhựa hoặc rác.
Lấy mẫu đại diện, ghi mã lô và thống nhất phương án khi hàng khác chất lượng đã thỏa thuận. Một mẫu chỉ lấy trên bề mặt không đại diện cho cả xe nếu phần dưới đã phân lớp hoặc chứa nhiều nước.
Bảng kiểm nên có người được quyền từ chối lô bất thường. Không để áp lực “xe đã về rồi” biến nguyên liệu đáng nghi thành thức ăn bắt buộc phải dùng.
7. Bảo quản dựa vào lượng dùng và quy trình đã kiểm tra
Ước tính trước số ngày cần dùng hết. Nếu đàn nhận 200 kg mỗi ngày, một chuyến 5 tấn tương đương 25 ngày trước khi tính hao hụt. Trại phải có khả năng bảo quản tương ứng, không chỉ có chỗ đổ hàng.
Nghiên cứu lên men okara cho thấy chất lượng bảo quản phụ thuộc độ ẩm, nguồn đường, vi sinh vật và điều kiện thử nghiệm. [5] Không thể suy ra cứ thêm 3% cám ngô và 1% muối là mọi loại bã sẽ giữ được dài ngày.
Nếu cần ủ, dùng quy trình phù hợp đúng nguyên liệu và thử mẻ nhỏ có đánh giá trước. Kho cần thoát nước, hạn chế nhiễm bẩn và kiểm soát nước rỉ. Mẻ đã hỏng không được cứu bằng cách thêm men rồi đóng kín lại.
Hướng dẫn về kho và thiết bị của Mississippi State lưu ý đặc tính ẩm cao làm tăng nguy cơ xuống cấp, đồng thời yêu cầu quản lý thao tác và tính toán chính xác. [6]
8. Đổi khẩu phần theo chất khô và tập ăn có theo dõi
Người lập công thức xác định phụ phẩm thay cho thành phần nào, bao nhiêu chất khô, và cần điều chỉnh phần đạm, năng lượng, khoáng hoặc xơ gì. Không chỉ thêm lên trên khẩu phần cũ vì nghĩ phụ phẩm rẻ nên bò ăn bao nhiêu cũng tốt.
Khi độ khô thay đổi, lượng tươi phải được cập nhật. Nếu thức ăn đang 25% chất khô giảm còn 20%, 10 kg tươi sẽ từ 2,5 xuống 2 kg chất khô. Đây là thiếu hụt đáng kể nếu thành phần đó dùng nhiều.
Tăng theo kế hoạch làm quen, ghi lượng ăn và phần thừa. Phân lỏng, giảm nhai lại hoặc bỏ ăn cần được đánh giá cùng toàn bộ khẩu phần và sức khỏe; không quy tất cả cho “nhiều nước” rồi tự tăng cám khô.
9. Đánh giá tiền tiết kiệm trên một kg tăng trọng
Với bò vỗ béo, cân theo điều kiện thống nhất và theo dõi tăng trọng trong thời gian đủ đại diện. Tính tổng tiền thức ăn đã dùng chia cho số kg tăng, đồng thời ghi thuốc, công và hao hụt liên quan.
Khẩu phần rẻ hơn mỗi ngày nhưng làm tăng trọng chậm có thể kéo dài thời gian nuôi và tăng chi phí chuồng. Ngược lại, phụ phẩm có chất lượng ổn định, gần trại và được bảo quản tốt có thể mang lợi ích rõ.
Chọn nguồn cung dựa trên chất lượng dùng được, lịch giao ổn định và kết quả đàn. Đó là cách tận dụng phụ phẩm có thể duy trì qua nhiều lô, thay vì mua theo một mức giá tươi hấp dẫn.
Tài liệu tham khảo
- Nghiên cứu — The Chemical Characteristics and In Vitro Degradability of Pineapple By-Products as Potential Feed for Ruminants.
- Alabama Cooperative Extension — Byproduct Feeds for Alabama Beef Cattle Operations.
- University of Florida — Wet Brewers' Grains for Beef Cattle.
- University of Illinois — Utilizing Corn Residue for Cattle Feed.
- Kouya và cộng sự, 2020 — Development of Shima-dofu okara silage by using native lactic acid bacteria and its fermentative quality.
- Mississippi State University — Feedstuff Handling, Storage, and Feeding Systems for Livestock.
Bài mới nhất
Đang tải bài mới...






0 nhận xét:
Đăng nhận xét