Cùng một công thức, hôm nay bò ăn tốt nhưng ngày mai lại bỏ nhiều thức ăn. Nguyên nhân có thể nằm ở nguyên liệu ướt hơn, cân sai hoặc mẻ trộn không đều. Vì vậy, quản lý thức ăn trộn cần theo dõi từ kho nguyên liệu đến phần còn lại trong máng.
TMR là viết tắt của Total Mixed Ration, nghĩa là khẩu phần hỗn hợp hoàn chỉnh. Thức ăn thô, thức ăn tinh, khoáng và các thành phần khác được cân rồi trộn theo công thức cho một nhóm bò. Mục đích là giúp bò nhận dinh dưỡng tương đối đồng đều khi ăn.
1. Chọn đúng nhóm bò trước khi lập công thức
Bò mới đẻ, bò đang cho nhiều sữa và bò cạn sữa có nhu cầu khác nhau. Không thể trộn một mẻ thật giàu thức ăn tinh rồi dùng cho tất cả chỉ vì trại có một máy trộn.
Người lập khẩu phần cần biết khối lượng bò, giai đoạn tiết sữa, sản lượng và thành phần sữa, thể trạng, lượng ăn thực tế cùng kết quả phân tích nguyên liệu. University of Minnesota giải thích việc phân nhóm là một phần quan trọng khi áp dụng TMR. [1]
Với trại nhỏ, có thể khó chia nhiều nhóm. Khi đó cần thống nhất cách cho ăn phù hợp với chuyên gia dinh dưỡng, đồng thời ghi rõ nhóm nào nhận công thức nào. Không tự tăng cám cho cả đàn chỉ vì vài con cho nhiều sữa.
2. Hiểu chất khô để không cân nhầm phần nước
Chất khô là phần còn lại của thức ăn sau khi loại nước. Một nguyên liệu có 35% chất khô nghĩa là 100 kg nguyên liệu tươi chứa khoảng 35 kg chất khô và 65 kg nước. Độ ẩm trong ví dụ này là 65%, không phải 35%.
Giả sử công thức cần 10 kg chất khô từ ngô ủ chua cho mỗi con mỗi ngày. Nếu ngô có 35% chất khô, lượng tươi phải cân là 10 ÷ 0,35 = 28,57 kg. Khi ngô chỉ còn 30% chất khô, phải cân 10 ÷ 0,30 = 33,33 kg để cung cấp cùng lượng chất khô.
Nếu vẫn cân 28,57 kg ở mức 30%, bò chỉ nhận 8,57 kg chất khô từ ngô, thiếu khoảng 1,43 kg so với công thức. Ví dụ này chỉ minh họa cách quy đổi, không phải mức ngô khuyến nghị cho mọi bò.
Kentucky hướng dẫn điều chỉnh lượng nguyên liệu ướt theo chất khô, nhất là khi độ ẩm thay đổi. [2] Trại nên có kết quả đo mới khi đổi lô, sau mưa hoặc khi nguyên liệu khác rõ rệt. Không thêm cám tùy ý để bù cho một nguyên liệu đang nhiều nước hơn.
3. Chuẩn bị phiếu cân cho từng mẻ
Phiếu trộn cần ghi ngày, nhóm bò, số con thực tế, mã công thức, tên nguyên liệu và số kilôgam phải nạp. Người vận hành cần nhìn thấy lượng yêu cầu của từng thành phần, không chỉ tổng khối lượng cuối mẻ.
Ví dụ, tổng mẻ đúng 1.000 kg vẫn có thể sai nếu thiếu 20 kg nguyên liệu này nhưng thừa 20 kg nguyên liệu khác. Vì vậy cần lưu cả số cân thực tế, đánh dấu khoản vượt sai số và báo người phụ trách trước khi tiếp tục.
Kiểm tra cân về không khi thùng rỗng và kiểm tra định kỳ bằng tải đã biết. Nền nghiêng, nguyên liệu bám lại và lỗi cảm biến có thể làm việc cân kém ổn định. Các thành phần lượng nhỏ cần cân phù hợp và cách trộn sơ bộ đã được người lập công thức hướng dẫn.
4. Thứ tự nạp phụ thuộc máy trộn
Máy trộn đứng và máy trộn ngang có cách xử lý thức ăn khác nhau. Rơm dài, cỏ đã băm và ngô ủ chua cũng không đi qua máy giống nhau. Hãy dùng hướng dẫn đúng mẫu máy, loại nguyên liệu và mức đầy thùng; không áp một thứ tự nạp cho mọi thiết bị.
Minnesota mô tả thứ tự nạp khác nhau giữa các kiểu máy. [1] Trại cần viết quy trình riêng sau khi kiểm tra mẻ trộn thực tế. Ghi rõ thời điểm bắt đầu tính thời gian trộn, tốc độ làm việc và cách xả thức ăn.
Trộn quá ít dễ còn từng đám nguyên liệu. Trộn kéo dài có thể làm thức ăn thô bị cắt nhỏ thêm. Khi đổi dao, sửa trục hoặc thay nguyên liệu, nên kiểm tra lại thay vì giữ nguyên thời gian vì đã quen dùng.
5. Kiểm tra độ dài thức ăn bằng sàng
Bộ sàng Penn State giúp phân thức ăn theo kích thước. Phiên bản có sàng 19, 8 và 4 mm cùng khay đáy khác với các phiên bản cũ. Cần ghi rõ bộ đang dùng để chọn hướng dẫn và so sánh kết quả đúng. [3]
Người kiểm tra lấy mẫu theo một cách thống nhất, lắc theo hướng dẫn rồi cân phần nằm trên từng tầng. So mẫu lúc vừa cho ăn với mẫu còn lại trong máng để xem bò có lựa phần ăn hay không.
Sàng đo phân bố kích thước, không thay thế xét nghiệm đạm, tinh bột hoặc chất xơ. Một mẻ nhìn đều và đạt phân bố mong muốn vẫn có thể sai dinh dưỡng nếu dùng nhầm nguyên liệu. Cũng không thể dựa vào sàng để khẳng định pH dạ cỏ luôn nằm trong một khoảng cố định.
6. Lấy mẫu trước khi bò làm thay đổi mẻ trộn
Nếu mục đích là kiểm tra thức ăn máy vừa đưa ra, mẫu cần lấy trước khi bò kịp lựa ăn. Hướng dẫn lấy mẫu TMR của University of California nhấn mạnh rằng việc lựa ăn bắt đầu ngay sau khi thức ăn được cấp. [4]
Có thể lập sơ đồ các vị trí cố định ở đầu, giữa và cuối đường rải. Giữ mẫu riêng khi muốn tìm vị trí bất thường; dùng mẫu gộp theo hướng dẫn phòng xét nghiệm khi muốn phân tích đại diện cho mẻ. Ghi giờ, vị trí và mục đích lấy để người đọc kết quả không hiểu nhầm.
Nếu đầu đường rải có nhiều cỏ dài còn cuối đường nhiều hạt nhỏ, cần kiểm tra quá trình trộn và xả. Nếu lúc mới rải tương đối đều nhưng về sau máng chỉ còn phần dài, cần xem hành vi lựa ăn và khả năng tiếp cận máng.
7. Độ ẩm cần phù hợp với cả khả năng bảo quản
Thêm nước có thể thay đổi cách các thành phần bám vào nhau, nhưng không có một mức nước dùng chung cho mọi hỗn hợp. Nghiên cứu về bổ sung nước vào TMR cho thấy đây là yếu tố cần đánh giá cùng kích thước hạt và thành phần hỗn hợp. [5]
Trước khi thay nước, hãy biết chất khô của mẻ hiện tại, lượng nước đang có trong phụ phẩm và thời gian thức ăn nằm trên máng. Không đặt mục tiêu “45–50%” mà quên ghi đó là chất khô hay độ ẩm.
Khi thử điều chỉnh, ghi lượng nước thêm, độ ẩm đo được, mức lựa ăn và tình trạng thức ăn cuối cữ. Thức ăn nóng bất thường, đổi mùi hoặc có mốc cần được kiểm tra; không trộn phần hỏng vào mẻ mới để che dấu.
8. Tính lượng ăn từ thức ăn cấp và thức ăn thừa
Giả sử một nhóm nhận 1.000 kg thức ăn tươi và còn 50 kg trước cữ mới. Tỷ lệ thừa theo khối lượng tươi là 50 ÷ 1.000 × 100 = 5%. Con số này chưa cho biết chính xác lượng chất khô bò ăn vì phần thừa có thể khác độ ẩm và thành phần.
Muốn ước tính lượng chất khô biến mất khỏi máng, lấy chất khô đã cấp trừ chất khô thu hồi. Cần tính riêng phần rơi vãi hoặc bị nước làm hỏng nếu có, vì phần mất đó không phải bò đã ăn. Sau đó chia theo số bò thực tế trong nhóm.
Mục tiêu thức ăn thừa cần thống nhất theo điều kiện trại. Đừng cố đạt một tỷ lệ đẹp bằng cách để máng trống lâu, hoặc tăng thức ăn quá mức dù phần thừa đang hỏng. Nhật ký nên giúp phát hiện nguyên nhân, không chỉ ghi một con số cuối ngày.
9. Khi lượng ăn giảm, kiểm tra từ việc đơn giản
Đối chiếu số bò, giờ cấp thức ăn, phiếu cân và chất khô trước. Sau đó xem nước uống, nắng nóng, chỗ đứng ăn, thức ăn có bị đẩy ra ngoài tầm với và có nhiều con bị tranh máng hay không.
Nếu kèm giảm nhai lại, phân thay đổi hoặc nhiều bò có dấu hiệu bệnh, cần phối hợp người làm dinh dưỡng và thú y. Tránh thay nhiều thành phần cùng lúc khiến không biết thay đổi nào đã có tác dụng.
Một ca cho ăn tốt cần bàn giao được cho ca sau: đã dùng lô nào, cân thực tế bao nhiêu, còn thừa ở đâu và có bất thường gì. Nhờ vậy công thức trên giấy mới được kiểm tra bằng những gì bò thực sự nhận và ăn mỗi ngày.
Tài liệu tham khảo
- University of Minnesota — Feeding total mixed rations.
- University of Kentucky — Managing the Total Mixed Ration to Prevent Problems in Dairy Cows.
- Penn State Extension — Penn State Particle Separator.
- University of California — Total Mixed Ration (TMR) Sampling Protocol.
- Journal of Dairy Science — Particle size distribution and chemical composition of total mixed rations: Water addition and feed sampling effects.
Bài mới nhất
Đang tải bài mới...






0 nhận xét:
Đăng nhận xét