Hai trại có thể dùng cùng một dung dịch iodine nhưng nhận kết quả khác nhau. Núm còn bẩn, lau quá sớm, nhúng không đủ hoặc cốc bị nhiễm bẩn đều có thể làm quy trình kém hiệu quả.
Nhúng trước và sau vắt giúp giảm nguy cơ nhiễm khuẩn trong chương trình kiểm soát viêm vú. Muốn đánh giá, cần xem cả sản phẩm, cách sử dụng, da núm và số ca nhiễm mới, thay vì chỉ dựa vào nồng độ in trên can.
1. Hai lần nhúng có mục đích khác nhau
Nhúng trước vắt, gọi là pre-dip, hỗ trợ giảm vi khuẩn trên núm trước khi gắn máy. Núm phải được làm sạch phần bẩn, đủ thời gian tiếp xúc rồi lau khô bằng khăn riêng.
Nhúng sau vắt, gọi là post-dip, thực hiện ngay sau tháo cụm để giảm vi khuẩn trên bề mặt núm trong giai đoạn sau vắt. Không lau bỏ ngay như với dung dịch trước vắt, trừ yêu cầu đặc biệt theo hướng dẫn sản phẩm.
Penn State hướng dẫn phân biệt cách dùng trước và sau; nếu một sản phẩm được dùng cho cả hai mục đích vẫn cần cốc riêng. [1] Sản phẩm chỉ ghi dùng sau vắt không mặc nhiên được dùng trước vắt.
2. Iodine không phải chỉ có một dạng công thức
Dung dịch thương mại có thể gồm iodine trong hệ tạo phức, chất dưỡng da và các thành phần giúp ổn định. Phải đọc nồng độ theo đúng cách nhà sản xuất công bố; màu nâu đậm không phải phép đo hiệu lực.
Cần biết sản phẩm dùng ngay hay phải pha, có được nhúng, phun hoặc tạo bọt không, và dùng cho giai đoạn nào. Một sản phẩm có nồng độ khác vẫn có thể có hướng dẫn riêng, nên không tự ép tất cả về 0,5–1% iodine.
NMC khuyến cáo thu thập nhãn, hoạt chất, thời gian tiếp xúc, thông tin dưỡng da và cách sử dụng trước khi chọn. [2] Tài liệu an toàn và thông tin tương thích cũng cần có tại nơi pha.
3. Pha theo nhãn và ghi rõ lượng cuối cùng
Với loại dùng ngay, không thêm nước để tiết kiệm hoặc thêm glycerin theo công thức của sản phẩm khác. Với loại đậm đặc, dùng nước và dụng cụ đáp ứng hướng dẫn, đo lượng rõ ràng.
Ví dụ chỉ để hiểu tỷ lệ: nhãn yêu cầu một phần sản phẩm với chín phần nước nghĩa là 1 lít sản phẩm cộng 9 lít nước, cho khoảng 10 lít hỗn hợp. Nó không có nghĩa thêm 1 lít vào 10 lít nước. Không áp tỷ lệ này cho sản phẩm không có hướng dẫn tương ứng.
Phiếu pha nên ghi tên, mã lô, ngày giờ, người pha, lượng nước và lượng sản phẩm. Dụng cụ cần ghi đơn vị; không lấy vạch trên một xô không rõ độ chính xác làm chuẩn.
Không trộn iodine với hóa chất rửa đường sữa hoặc sản phẩm sát trùng khác. Nếu da núm xấu đi, cần kiểm tra nguyên nhân và hỏi nhà cung cấp, không tự tạo hỗn hợp mới.
4. Trước vắt: Sạch, đủ thời gian, rồi khô
Dung dịch cần tiếp xúc da thay vì chỉ nằm trên lớp bùn hoặc phân. Loại bỏ phần bẩn nhìn thấy, phủ dung dịch đủ vùng theo hướng dẫn và giữ đúng thời gian nhãn yêu cầu.
Mốc thường gặp là khoảng 30 giây nhưng cần ưu tiên hướng dẫn của sản phẩm cụ thể. University of Florida giải thích phải lau khô từng con sau chuẩn bị, tránh nước mang bẩn xuống đầu núm. [3]
Bấm giờ một số con trong điều kiện làm việc bình thường. Nếu nhúng xong lau ngay vì người vắt đang vội, cần điều chỉnh nhóm thao tác và nhịp làm. Đừng giải quyết bằng cách tăng nồng độ.
Lau kỹ đầu núm và bề mặt trước gắn cốc. Điều này vừa bảo vệ vệ sinh vừa hạn chế đưa dung dịch còn dư vào sữa. Không dùng hóa chất sát trùng nhà xưởng làm dung dịch nhúng núm.
5. Sau vắt: Phủ đủ thay vì chỉ chạm đầu núm
Nhúng ngay sau tháo máy và bảo đảm toàn bộ vùng da được yêu cầu đều có dung dịch. Một giọt ở lỗ núm không chứng minh các mặt núm đã được phủ.
Nếu phun, cần nhìn cả mặt khuất, các núm xa và vị trí vòi. DairyNZ nhấn mạnh hiệu quả phụ thuộc độ phủ đầy đủ; các lỗi thường gặp gồm phủ thiếu và pha sai. [4]
Với hệ tự động, kiểm tra trên bò có kích thước và dáng bầu vú khác nhau. Bình dung dịch vẫn vơi không có nghĩa bốn núm đều nhận đủ; vòi có thể phun lệch hoặc tắc một phần.
Không phải mọi post-dip đều tạo màng polymer. Loại tạo hàng rào là một nhóm sản phẩm riêng, có yêu cầu về làm khô và loại bỏ trước cữ sau.
6. Cốc không trào ngược vẫn phải được làm sạch
Cốc có cơ chế hạn chế hồi lưu giúp giảm một đường đưa chất bẩn về bình chứa, nhưng phần tiếp xúc núm vẫn có thể bẩn. Cần dùng và tháo vệ sinh theo hướng dẫn dụng cụ.
Khi dung dịch hoặc cốc bị nhiễm phân, phải ngừng dùng, xử lý phần bẩn và thay dung dịch đúng cách. Không đổ thêm dung dịch mới vào cốc bẩn để dùng tiếp cả ca.
NMC hướng dẫn bỏ phần thừa trong cốc sau vắt, không đổ ngược về can, và vệ sinh cốc sau mỗi cữ hoặc khi nhiễm bẩn. [2] Phân công người thực hiện và kiểm tra giúp bước cuối ca không bị bỏ sót.
7. Da núm cần được theo dõi cùng hiệu quả sát trùng
Da khô nứt, loét hoặc kích ứng cần được ghi nhận theo vị trí và thời điểm xuất hiện. Kiểm tra cả chất lượng dung dịch, pha loãng, điều kiện chuồng và tác động máy.
NMC có hướng dẫn đánh giá da núm, phân biệt thay đổi liên quan môi trường, sản phẩm và máy vắt. [5] Quan sát trước làm sạch giúp xem da, còn quan sát ngay sau tháo máy giúp nhận ra một số thay đổi do vắt.
Đánh giá bằng cùng cách, đủ ánh sáng và người đã được hướng dẫn. Không chỉ chụp vài núm đẹp sau khi đổi sản phẩm rồi kết luận cả đàn cải thiện.
8. Chỗ nằm sau vắt vẫn phải sạch
Cấu trúc núm cần thời gian hồi phục sau vắt; mức thay đổi không nên coi như một chiếc cửa đồng loạt đóng đúng phút thứ 30 hoặc 45 ở mọi con. Mục tiêu là giảm tiếp xúc với phân và nền bẩn.
Chuẩn bị thức ăn sạch để bò có thể đứng ăn khi trở về, đồng thời bảo đảm nước và chỗ nằm khô. Không dùng việc nhốt đứng bắt buộc để bù một khu nằm bẩn hoặc thiếu ô.
Bò mệt hoặc đi đau cần được đánh giá riêng. Nhúng đúng không thay thế kiểm soát bệnh ở chân, vệ sinh nền và thao tác máy nhẹ nhàng.
9. Không lấy hiệu quả trong phòng thử làm tỷ lệ phòng bệnh của trại
Mức giảm vi khuẩn trên bề mặt khác với mức giảm ca nhiễm bầu vú mới. Một kết quả diệt khuẩn ở điều kiện xác định không chứng minh trại sẽ ngăn được 90% mọi mầm bệnh.
NMC xây dựng hướng dẫn thử hiệu lực dựa trên thiết kế nghiên cứu và tiêu chí nhiễm mới rõ ràng. [6] Khi chọn sản phẩm, nên hỏi bằng chứng của đúng công thức và đúng cách dùng.
Tại trại, theo dõi ca viêm vú mới, SCC từng con, tình trạng da, mức phủ và lượng dung dịch mỗi cữ. Ghi cả thay đổi máy, nền nằm và đàn. Cách này giúp phân biệt lỗi sản phẩm với lỗi thực hiện và chọn việc cần sửa.
Tài liệu tham khảo
- Penn State — Pre- and Post-Dip Considerations.
- NMC — Proper Storage and Handling of Teat Disinfectants.
- University of Florida — Milking Management Program: Proper Milking Procedures.
- DairyNZ — Managing teat health.
- NMC — Guidelines for Evaluating Teat Skin Condition.
- NMC — Guidelines for Testing Teat Disinfectants for Efficacy in Preventing Intramammary Infections.
Bài mới nhất
Đang tải bài mới...






0 nhận xét:
Đăng nhận xét