Bò hậu bị là đàn cái được nuôi để thay thế hoặc bổ sung cho đàn sinh sản. Giai đoạn từ cai sữa đến phối đầu cần giúp bò lớn đều, có khung cơ thể phù hợp và giữ sức khỏe. Nuôi chậm làm kéo dài thời gian chờ, còn tăng cân chủ yếu do tích mỡ cũng không đạt mục tiêu.
Tuổi 13–15 tháng có thể là mốc lập kế hoạch cho một số đàn bò sữa. Quyết định phối còn phải dựa vào khối lượng, chiều cao, thể trạng và tình trạng sinh sản của từng con.
1. Xác định tầm vóc trưởng thành của đàn
Đàn HF lớn, bò lai nhỏ hơn hoặc giống khác không nên dùng nguyên một mức cân phối. Cần biết tầm vóc của nhóm bò trưởng thành khỏe, đại diện cho nguồn giống trại đang nuôi.
Một chỉ dẫn thường dùng là đạt khoảng 55% khối lượng trưởng thành khi phối, đồng thời xem phát triển khung cơ thể. Penn State có hướng dẫn theo dõi tăng trưởng và điều chỉnh theo giống. [1]
Ví dụ, đàn có khối lượng trưởng thành đại diện 650 kg thì 55% là 357,5 kg. Nếu đàn trưởng thành 550 kg, cùng tỷ lệ tương ứng 302,5 kg. Đây là ví dụ để thấy vì sao không lấy một mốc 350–380 kg cho mọi đàn.
2. Cân và đo để biết bò đang lớn thế nào
Lập hồ sơ theo mã cá thể từ cai sữa, các mốc theo dõi, trước phối và trước đẻ. Cân đúng bằng thiết bị phù hợp sẽ rõ hơn ước lượng bằng mắt. Khi dùng thước vòng ngực, cần chọn loại phù hợp và hiểu đây là phép ước tính.
Đo chiều cao trên nền bằng phẳng, giữ cùng vị trí giải phẫu giữa các lần. Chiều cao khum và chiều cao vai không phải một phép đo. Ghi tên chỉ tiêu rõ để tránh so hai cách với nhau.
Ontario lưu ý tuổi là hướng dẫn ban đầu, còn số đo cơ thể giúp quyết định bò đã sẵn sàng phối hay chưa. [2] Chọn lịch đo đủ đều để phát hiện chậm lớn trước khi đến tuổi phối.
3. Tính tăng trọng theo mục tiêu của trại
Tăng trọng trung bình ngày được tính bằng khối lượng tăng chia số ngày theo dõi. Giả sử một con từ 100 lên 160 kg sau 75 ngày, tăng trung bình là 60 ÷ 75 = 0,8 kg/ngày.
Mức cần đạt phụ thuộc điểm xuất phát, tầm vóc trưởng thành và thời gian dự kiến phối. Không nên dùng 750–800 g/ngày như một chuẩn cho mọi lứa tuổi hoặc mọi giống. Theo dõi đường tăng trưởng giúp người phối khẩu phần điều chỉnh đúng nhóm.
Wisconsin hướng dẫn gắn mục tiêu tuổi phối với khối lượng và mức phát triển của đàn. [3] Nếu bò đã chậm nhiều, cần tìm nguyên nhân thay vì dồn thức ăn để tăng cân thật nhanh ngay trước phối.
4. Khẩu phần cần giúp phát triển khung, cơ và sức khỏe
Khẩu phần là toàn bộ thức ăn một con nhận trong ngày. Cần cân đối năng lượng, đạm, chất xơ và khoáng theo tuổi, lượng ăn và mục tiêu tăng trưởng. Một tỷ lệ đạm chung không thay thế được tính toán từ nguyên liệu thực.
Cỏ và thức ăn ủ cần có chất lượng phù hợp, tránh quá già, hỏng hoặc nhiều phần khó ăn. Độ ẩm thay đổi sẽ làm lượng dưỡng chất khác nhau dù cân thức ăn tươi như cũ. Ghi lượng cấp, phần thừa và khả năng tiếp cận máng.
Chia nhóm gần nhau về kích thước và nhu cầu để hạn chế cạnh tranh. Bò nhỏ bị lấn có thể ăn không đủ dù tổng lượng cả nhóm nhìn dư. Nước uống, chỗ nằm và đường đi cũng phải phù hợp tầm vóc.
5. Phân biệt lớn đủ với béo nhiều
Bò tăng cân cần được xem cùng chiều cao và thể trạng. Thể trạng là mức gầy, béo dựa trên lượng mô dự trữ quan sát ở những vị trí cơ thể. Một con nặng nhưng khung nhỏ và nhiều mỡ chưa chắc đã phát triển phù hợp.
Nếu nhóm tăng béo nhanh, cần xem lại mật độ năng lượng và lượng ăn. Nếu gầy, chậm cao hoặc tăng cân kém, kiểm tra khẩu phần, cạnh tranh và sức khỏe. Điều chỉnh cần dựa trên cả nhóm số đo.
Wisconsin lưu ý đo mức trưởng thành của hậu bị để quản lý thời điểm vào đàn sữa. [4] Mục tiêu là đạt cơ thể phù hợp cho mang thai và lứa sữa đầu, đồng thời kiểm soát chi phí nuôi.
6. Tìm nguyên nhân khi bò chậm lớn
Trước tiên xem lượng thực ăn và nước. Máng đủ chỗ không, bò có bị đẩy không, thức ăn có dễ ăn và luôn tiếp cận được không? Kiểm tra nhiệt, ẩm và chỗ nghỉ vì bò hậu bị cũng bị ảnh hưởng bởi nóng.
Xem bệnh hô hấp, tiêu hóa, ký sinh trùng và những vấn đề đang có ở đàn. Phối hợp thú y để kiểm tra theo nguy cơ, không dùng thuốc định kỳ tùy ý thay cho tìm nguyên nhân.
Đối chiếu lịch tăng trưởng với các lần chuyển nhóm, cai sữa hoặc đổi thức ăn. Nếu nhiều con cùng giảm tăng sau một thay đổi, ưu tiên kiểm tra việc quản lý đó. Nếu chỉ một số con chậm, cần xem riêng từng cá thể.
7. Trước phối cần xác nhận những gì?
- Đã đạt mục tiêu cơ thể theo đàn và có tăng trưởng phù hợp.
- Thể trạng, chân móng và sức khỏe đủ để đưa vào kế hoạch sinh sản.
- Có hồ sơ động dục hoặc đánh giá sinh sản theo chương trình.
- Tinh giống phù hợp, có xem chỉ tiêu dễ đẻ và tránh cận huyết.
Không phối chỉ vì đã đến một ngày tuổi. Ngược lại, cũng không để bò đã đủ điều kiện chờ kéo dài vì thiếu phát hiện động dục hoặc tổ chức người phối. Hồ sơ giúp phân biệt vấn đề tăng trưởng với vấn đề quản lý sinh sản.
Ghi giờ phối, mã tinh, người làm và kết quả khám thai. Nếu chưa đậu, tiếp tục đánh giá theo kế hoạch thay vì coi đã phối một lần là hoàn thành giai đoạn hậu bị.
8. Sức khỏe, vaccine và làm quen trước đẻ
Chương trình sức khỏe cần được xây dựng với thú y theo nguồn đàn, nguy cơ và hướng dẫn sản phẩm. Các bệnh như lở mồm long móng, tụ huyết trùng hoặc viêm da nổi cục cần được xem trong kế hoạch phòng bệnh áp dụng tại địa phương.
Ghi mã bò, sản phẩm, ngày thực hiện và thời điểm cần nhắc theo chương trình. Lưu ý điều kiện dùng trên con đang mang thai. Không sao một lịch chung từ đàn khác mà bỏ qua sản phẩm và tình trạng cá thể.
Trước khi vào đàn vắt, có thể cho bò làm quen nhẹ nhàng với lối đi, nơi đứng và hoạt động quanh giàn theo quy trình trại. Tránh dồn quá nhiều thay đổi cùng lúc hoặc làm con vật sợ. Chỗ nằm và thức ăn giai đoạn chuẩn bị đẻ cần được sắp xếp trước.
9. Tiếp tục theo dõi sau khi có thai
Hậu bị có thai vẫn còn phát triển. Cần giữ tăng trưởng phù hợp và theo dõi thể trạng, không để quá gầy hoặc quá béo. Cân trước đẻ phải được đọc cùng giai đoạn thai, vì khối lượng thai và các phần liên quan làm số cân thay đổi.
Ghi ngày dự kiến đẻ, chuẩn bị khu sinh và người theo dõi. Sau đẻ, tiếp tục ghi sức khỏe và khả năng vào lứa sữa đầu để đánh giá cả chương trình nuôi hậu bị.
Những số liệu hữu ích gồm tuổi và khối lượng khi phối, tỷ lệ có thai, tuổi đẻ đầu, hỗ trợ đẻ và bệnh. Khi so chi phí, dùng cả thời gian nuôi và số bò thực sự vào đàn. Điều này giúp trại điều chỉnh mục tiêu theo kết quả của mình.
Tài liệu tham khảo
Bài mới nhất
Đang tải bài mới...






0 nhận xét:
Đăng nhận xét