Vân mỡ đẹp có thể làm thịt bò được trả giá cao hơn ở những thị trường có phân hạng. Nhưng nuôi thêm lâu để có vân mỡ cũng có thể làm tăng mỡ phải cắt bỏ, tiền thức ăn và vốn bị giữ lại.
Mục tiêu thực tế là cải thiện vân mỡ trong giới hạn kinh tế và sức khỏe của đàn. Không có cách cho ăn bảo đảm chỉ tăng mỡ trong cơ mà hoàn toàn không tăng các phần mỡ khác.
1. Phân biệt mỡ giắt và mỡ ngoài cơ
Vân mỡ là các vệt hoặc đốm mỡ nằm trong cơ, còn gọi mỡ giắt hay IMF, viết tắt của intramuscular fat. Mỡ dưới da, mỡ giữa các cơ và mỡ quanh nội tạng là các vị trí khác.
Meat and Livestock Australia mô tả vân mỡ trong đánh giá thân thịt và vai trò đối với cảm nhận mọng, hương vị. [1] Miếng thịt có lớp mỡ trắng dày ở mép chưa chắc có nhiều vân mỡ bên trong.
Độ mềm còn phụ thuộc cơ, tuổi, xử lý sau giết mổ và cách nấu. Không dùng vân mỡ để thay mọi tiêu chí chất lượng hoặc xem tất cả người mua đều cần thịt càng béo càng tốt.
2. Thống nhất cách phân hạng và trả tiền
Trước khi chọn chương trình nuôi, hỏi rõ người mua chấm ở cơ nào, thời điểm nào, dùng thang nào và ai thực hiện. Điểm của các hệ thống khác nhau không thể đổi theo tên gọi chung “bò cao cấp”.
Cần có yêu cầu cả khối lượng, mỡ phủ, tuổi, nguồn gốc và điều kiện sản phẩm. Nếu trại vẫn được trả theo kg sống với cùng đơn giá, chi phí nuôi kéo dài có thể chưa được hoàn lại.
Giữ ảnh, mã thân thịt và kết quả đánh giá nối với mã bò. Nếu chỉ nhìn vài miếng thành phẩm do người bán chọn, trại khó biết chương trình có cải thiện cả lô hay không.
3. Giống và từng cá thể quyết định phần tiềm năng
Một đàn có nguồn giống được chọn về vân mỡ sẽ khác đàn chỉ được chọn tăng cơ. Trong cùng giống, các cá thể cũng khác nhau. Không thể lấy tên Angus, Wagyu hay BBB để bảo đảm một điểm vân mỡ cụ thể.
Khi có dữ liệu giống, dùng giá trị di truyền được công bố đúng hệ thống cùng độ tin cậy, hồ sơ bố mẹ và kết quả đời con. Giữ điều kiện nuôi tương đối đồng đều để đánh giá nguồn giống.
Penn State hướng dẫn lựa chọn giống và nhóm nuôi hoàn thiện phải gắn với đầu ra. [2] Mua con có tiềm năng phù hợp từ đầu thường rõ mục tiêu hơn cố sửa bằng thức ăn vào cuối kỳ.
4. Dinh dưỡng tác động trong cả quá trình lớn
Khả năng tích mỡ trong cơ được hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn. Một vài tuần cuối không xóa được lịch sử bệnh, thiếu ăn kéo dài hoặc khác biệt di truyền.
Trong hoàn thiện, khẩu phần cần cung cấp năng lượng phù hợp cùng protein, khoáng, vitamin và chất xơ. Đường lên men tạo propionate có vai trò trong cung cấp tiền chất tạo glucose, nhưng đây chỉ là một phần của chuyển hóa, không phải công tắc riêng để mở tích mỡ giắt.
Không quy thành công thức “tăng tinh bột bằng mọi giá”. Nếu dạ cỏ rối loạn, lượng ăn giảm và tăng trọng kém, mục tiêu chất lượng lẫn kinh tế đều có thể bị ảnh hưởng.
5. Xử lý ngũ cốc cần tính cả rủi ro tiêu hóa
Ngô nghiền, ngô nguyên và ngô hấp cán có đặc điểm sử dụng khác nhau. Kích thước, độ ẩm và mức xử lý tác động đến tốc độ tiêu hóa, nên thay dạng nguyên liệu cần tính lại khẩu phần.
Oklahoma State khuyến cáo giai đoạn làm quen khi chuyển lên khẩu phần nhiều thức ăn tinh và giữ nguồn thô phù hợp. [3] Không tăng nhanh chỉ vì thấy hình bò nuôi dài ngày ở nước khác có vân mỡ đẹp.
Kiểm tra lượng cấp, phần thừa, nhai lại và phân. Lịch ăn thất thường hoặc máng hết rồi bù nhiều có thể làm chương trình khó ổn định hơn cả việc chọn nguyên liệu đắt hay rẻ.
Đánh giá thiết bị chế biến theo kết quả đàn và tổng chi phí. Đầu tư máy hấp cán không tự tạo lợi nhuận nếu nguồn bò, công thức và thị trường chưa phù hợp.
6. Vì sao không nên tự cắt vitamin A?
Vitamin A cần cho thị giác, tăng trưởng, mô và nhiều chức năng khác. Thiếu có thể gây vấn đề như quáng gà và tổn thương sức khỏe. Oklahoma State trình bày vai trò này và yêu cầu tính cả nguồn từ thức ăn, dự trữ cùng bổ sung. [4]
Có nghiên cứu kiểm soát cho thấy hạn chế vitamin A có thể tác động vân mỡ. Ví dụ thử nghiệm trên 20 bò Angus theo dõi trong mười tháng ghi nhận thay đổi lượng và đặc điểm mỡ giắt. [5] Kết quả này không tạo thành hướng dẫn bỏ vitamin ở mọi đàn thương phẩm.
Nguồn beta-carotene trong cỏ, dự trữ ở gan, tuổi và thời gian nuôi khiến mức nhận thực tế khác nhau. Không thể nhìn bò chưa có biểu hiện rồi kết luận giảm thêm vẫn an toàn.
Với trại thông thường, giữ khẩu phần đáp ứng nhu cầu và kiểm tra nguồn vitamin cùng chuyên gia. Không gọi việc gây thiếu vitamin là cách “mở khóa gen”, và không đổi sổ tay nuôi thành quy trình hạn chế nếu thiếu giám sát chuyên môn.
7. Đo cả vân mỡ và mỡ phủ khi theo dõi
Quan sát độ béo bên ngoài hữu ích nhưng chưa đo trực tiếp mỡ trong cơ. Nếu dùng siêu âm, cần kỹ thuật viên, vị trí đo và cách xử lý dữ liệu thống nhất.
Mississippi State mô tả siêu âm có thể đánh giá những chỉ tiêu như mỡ lưng, diện tích cơ thăn và ước tính IMF. [6] Kết quả cần đọc cùng giới hạn phương pháp, không xem một ảnh là điểm phân hạng sau giết mổ chắc chắn.
Ghép dữ liệu giữa kỳ với phản hồi thân thịt cuối cùng giúp trại biết thời điểm nào nuôi thêm chủ yếu tăng phần có giá trị và thời điểm nào phần mỡ phải bỏ tăng nhiều.
8. Tính quyết định nuôi thêm bằng khoản thu tăng thêm
Ví dụ giả định, giữ 10 bò thêm 30 ngày với thức ăn, công và chi phí khác 60.000 đồng/con/ngày sẽ tốn 18 triệu đồng. Chưa nên quyết định chỉ vì hy vọng điểm vân mỡ sẽ cao hơn.
Giả sử tổng giá trị tăng do cân nặng là 12 triệu, phần thưởng chất lượng được người mua xác nhận dự kiến 10 triệu, nhưng giá trị mỡ cắt bỏ và các khoản trừ tăng 2 triệu. Khoản tăng ròng trước chi phí giữ là 20 triệu; trừ 18 triệu còn 2 triệu, chưa tính rủi ro nếu chưa được đưa vào chi phí.
Nếu không đạt thưởng chất lượng, cùng ví dụ sẽ chỉ có 10 triệu tăng ròng trước chi phí, tức không bù được 18 triệu nuôi thêm. Các số hoàn toàn minh họa, cần thay bằng hợp đồng và dữ liệu của trại.
Tiền tăng cân và tiền thưởng không được tính trùng nếu đơn giá đã bao gồm chất lượng. Cũng cần tính vốn, hao hụt, bệnh và khả năng giải phóng chuồng cho lứa sau.
9. Xây dựng một chương trình có thể kiểm chứng
Bắt đầu với nhóm có nguồn giống rõ, khẩu phần ổn định và đầu ra có cách chấm thống nhất. Chọn các chỉ tiêu từ đầu: tăng trọng, thức ăn trên kg tăng, mỡ phủ, vân mỡ và giá trị sau các khoản trừ.
Ghi các con mắc bệnh hoặc rời nhóm, không chỉ chọn con đẹp để báo cáo. Thay đổi từng yếu tố có mục đích và dùng dữ liệu của nhiều lô để đánh giá.
Chất lượng thịt cao cần đi cùng sức khỏe, truy xuất và xử lý sau giết mổ. Với người nuôi, chương trình tốt là chương trình tạo đúng loại thịt người mua cần và giữ được lợi nhuận sau khi cộng đủ chi phí.
Tài liệu tham khảo
- Meat and Livestock Australia — AUS-MEAT marbling.
- Penn State — Considerations for Finishing Cattle for Beef.
- Oklahoma State — Finishing Beef Cattle On The Farm.
- Oklahoma State — Supplementing Vitamin A to Beef Cattle.
- Kruk và cộng sự, 2018 — Vitamin A and marbling attributes: Intramuscular fat hyperplasia effects in cattle.
- Mississippi State — Ultrasound Scanning Beef Cattle for Body Composition.
Bài mới nhất
Đang tải bài mới...






0 nhận xét:
Đăng nhận xét