Đường sữa nhìn sáng ở bên ngoài vẫn có thể giữ cặn bên trong, tại gioăng hoặc đoạn ít được dòng rửa đi qua. Cặn tạo chỗ cho vi sinh vật tồn tại và làm chất lượng sữa giảm dù bò được chuẩn bị sạch.
CIP là viết tắt của Clean-in-Place, nghĩa là làm sạch tại chỗ bằng cách đưa dung dịch qua hệ thống. Nó giúp rửa những phần được thiết kế để rửa tuần hoàn, nhưng không loại bỏ nhu cầu tháo kiểm tra các chi tiết theo lịch bảo dưỡng.
1. Phân biệt làm sạch và sát trùng
Làm sạch nhằm loại cặn sữa và chất bẩn. Sát trùng nhằm giảm vi sinh vật trên bề mặt đã được chuẩn bị phù hợp. Một bước sát trùng không bù được lớp cặn còn dày hoặc vùng không có dung dịch tiếp xúc.
Cornell nhấn mạnh cần quy trình làm sạch và khử trùng nghiêm ngặt cho máy vắt để kiểm soát nguồn nhiễm. [1] Khi chỉ số vi khuẩn sữa tăng, phải xem cả thiết bị, nguồn nước và thao tác, không chỉ đổ lỗi cho bò.
Đá sữa là dạng cặn có thành phần khoáng tích tụ trên bề mặt. Màng bám có thể gồm chất hữu cơ, khoáng và vi sinh vật, nên một hóa chất đơn lẻ chưa chắc giải quyết mọi loại cặn.
2. Bốn yếu tố phải cùng đạt
Một chu trình rửa phụ thuộc thời gian tiếp xúc, nhiệt độ, tác động cơ học của dòng rửa và nồng độ hóa chất. Penn State trình bày bốn yếu tố này trong hướng dẫn vệ sinh thiết bị sữa. [2]
Thiếu một yếu tố không thể tự bù bằng cách tăng mọi yếu tố còn lại. Dòng rửa không tới đầu ống thì tăng hóa chất trong bồn chưa chắc giúp bề mặt đó sạch.
Trại cần có bảng thông số cho đúng hệ thống, do đơn vị thiết bị và hóa chất xác nhận. Ghi rõ đo ở đâu, khoảng chấp nhận và việc phải làm khi không đạt. Không lấy thông số của một bồn nhỏ áp cho đường sữa dài hoặc ngược lại.
3. Tách sữa khỏi đường rửa trước khi khởi động
Sau vắt, hoàn tất chuyển sữa theo thiết kế rồi xác nhận bồn sữa đã được tách khỏi đường hóa chất. Kiểm tra vị trí van, ống hồi và đầu xả; không chỉ dựa vào đèn báo nếu trước đó có sửa hoặc đấu lại đường ống.
Cần đánh dấu rõ chế độ vắt và chế độ rửa. Nếu không chắc van đang ở đâu, dừng để xác minh thay vì chạy thử hóa chất rồi quan sát.
Ghi thời điểm sữa rời hệ thống và bắt đầu vệ sinh. Cặn để khô lâu khó xử lý hơn, nhưng việc làm ngay vẫn phải đi cùng xác nhận đúng đường đi.
4. Hiểu mục đích từng công đoạn
Tráng đầu giúp đưa phần sữa còn lại ra ngoài. Nhiệt độ tráng cần theo quy trình, tránh làm chất béo bám lại hoặc gây biến đổi cặn protein do xử lý nhiệt không phù hợp.
Rửa kiềm thường dùng để loại chất béo và protein; rửa axit xử lý phần cặn khoáng. DairyNZ giải thích các vai trò này và nhấn mạnh nước, nhiệt cùng chuyển động dung dịch. [3]
Tráng giữa các bước, sát trùng và thoát hết dung dịch phải theo chương trình của hệ thống, nhãn hóa chất và yêu cầu thu mua. Không coi mọi trại đều phải dùng cùng một chuỗi kiềm nóng, axit và “tráng nguội” sau cùng.
Một số sản phẩm sát trùng có hướng dẫn không tráng lại, sản phẩm khác hoặc quy trình khác có yêu cầu riêng. Việc tráng tùy ý bằng nước không đạt chất lượng có thể làm bề mặt bẩn trở lại.
5. Chọn hóa chất dùng cho thiết bị thực phẩm
NaOH là natri hydroxit, một chất kiềm có thể có trong sản phẩm rửa. Axit nitric hoặc phosphoric có thể có trong chất rửa axit. Nhưng tên hoạt chất chưa đủ để người vận hành tự pha từ hóa chất công nghiệp.
Sản phẩm thương mại có cách dùng, giới hạn vật liệu, yêu cầu nhiệt độ và an toàn riêng. Chọn loại dành cho ứng dụng sữa phù hợp thiết bị; giữ nhãn và phiếu an toàn tại nơi chứa.
Không trộn axit trực tiếp với chất rửa kiềm hoặc sản phẩm chứa chlorine. Các bơm định lượng, can và ống hút phải ghi rõ, ngăn đấu nhầm. Việc chuyển công đoạn cần có bước xả, tráng đúng để hạn chế hóa chất không tương thích gặp nhau.
Teagasc có các chương trình rửa không dùng chlorine nhưng vẫn cần kiểm soát nhiệt, lượng và thời gian. [4] Vì vậy không thêm chlorine vào mọi chất kiềm theo thói quen.
6. Đo nhiệt độ tại đường hồi
Nhiệt độ bồn nước nóng chỉ cho biết điểm đầu. Dung dịch có thể nguội khi đi qua đường dài, thiết bị lạnh hoặc lượng nước chưa đủ. Cần đo cả nhiệt độ hồi và thời gian còn nằm trong khoảng được yêu cầu.
Ví dụ giả định, phiếu vận hành yêu cầu dung dịch hồi duy trì trên một ngưỡng trong năm phút. Máy chạy tám phút nhưng chỉ hai phút đạt nhiệt thì chưa đáp ứng phiếu. Tổng thời gian động cơ chạy không thay thế thời gian tiếp xúc đúng điều kiện.
Không lấy 70–75°C làm chuẩn duy nhất cho mọi chất rửa. Nhiệt quá cao có thể ảnh hưởng hóa chất, gioăng và ống; thấp quá có thể làm rửa kém. [3] Khi nhiệt hồi giảm, tìm nguyên nhân trước khi tăng nhiệt bộ đun.
7. Kiểm tra dòng rửa và vùng dễ bị bỏ sót
Đường sữa cần được dung dịch tiếp xúc đủ bề mặt, gồm phía trên ống. Thiết kế có thể dùng dòng rối hoặc các đoạn nước được đẩy bằng không khí; cách kiểm tra phải theo hệ thống cụ thể.
Xem đầu rửa có gắn kín, bơm có đủ lưu lượng, van có mở đúng và đầu phun bồn có tắc không. Ống gập hoặc đầu rửa hở có thể làm một cụm nhận ít dung dịch hơn các cụm còn lại.
Lập sơ đồ những chi tiết cần tháo định kỳ: gioăng, van, điểm lấy mẫu, bộ lọc và đoạn nối. Một chương trình tự động báo hoàn tất không chứng minh các vị trí đó đều sạch.
8. Dùng cảm biến để kiểm tra, không chỉ để bật tắt
Độ dẫn điện thay đổi theo lượng chất hòa tan và nhiệt độ. Nó có thể hỗ trợ theo dõi dung dịch rửa nếu đã hiệu chuẩn theo sản phẩm và điều kiện làm việc. Nó không trực tiếp đo mọi chất bẩn hoặc chứng minh không còn vi sinh vật.
So lượng hóa chất định lượng với thực tế can đã dùng, kiểm tra ống hút và van một chiều. Nếu cảm biến báo bình thường nhưng can không vơi qua nhiều cữ, cần xác minh hệ thống chứ không mặc định cảm biến đúng.
Nhật ký nên lưu nhiệt đầu, nhiệt hồi, thời gian, thông số nồng độ theo phương pháp được chọn và các lỗi. Nhờ đó có thể đối chiếu khi một lô sữa có chỉ số bất thường.
9. Xác nhận sạch và xử lý khi chu trình không đạt
Kiểm tra các vị trí tiếp cận được sau khi thiết bị đã an toàn để mở. Tìm cặn, mùi, bề mặt nhớt và chi tiết nứt hoặc chai. Thay vật liệu đúng lịch và đúng thông số nhà sản xuất.
Kết quả vi sinh sữa, mẫu nước hoặc mẫu thiết bị giúp đánh giá vấn đề; cần lấy theo kế hoạch để tránh nhiễm từ thao tác. Không suy ra đường ống sạch hoàn toàn từ một lần nhìn bằng mắt.
Ontario hướng dẫn phối hợp nhà cung cấp hóa chất và thiết bị để xác lập nồng độ, nhiệt độ, thời gian và quy trình được niêm yết tại khu sữa. [5] Dù tài liệu viết cho sữa dê, nguyên tắc xác lập thông số đúng từng thiết bị cũng áp dụng khi quản lý hệ thống bò sữa.
Khi không đạt, đánh dấu hệ thống chưa sẵn sàng, tìm lỗi và làm lại theo hướng dẫn trước khi vắt tiếp. Nếu nghi hóa chất đã vào sữa, giữ riêng lô và báo người phụ trách cùng đơn vị thu mua; không pha loãng vào bồn để cố đạt chỉ tiêu.
Tài liệu tham khảo
- Cornell University — Cleaning and Disinfection on the Dairy Farm.
- Penn State — Cleaning Small-Scale Dairy Plants: Cleaning Equipment.
- DairyNZ — Cleaning your milking system.
- Teagasc — Milk Quality: chương trình vệ sinh hệ thống vắt.
- Ontario — Producing safe and high-quality goat milk: Equipment cleaning and sanitizing.
Bài mới nhất
Đang tải bài mới...






0 nhận xét:
Đăng nhận xét