Vỗ béo giai đoạn cuối cần bắt đầu từ con bò phù hợp và đầu ra rõ ràng. Mua bò gầy do bệnh rồi tăng cám ngay có thể làm chi phí tăng nhưng tăng trọng vẫn kém.
Mốc 90 ngày là khoảng lập kế hoạch, không phải cam kết mọi bò lai BBB đều đạt một cân nặng hoặc độ hoàn thiện như nhau. Trại cần đo khối lượng đầu kỳ, lượng ăn và mức tăng thực tế để quyết định tiếp tục hay xuất bán.
1. Hiểu đặc điểm BBB nhưng không suy thành cân nặng bảo đảm
BBB là cách gọi giống Blanc-Bleu-Belge, thường gọi Belgian Blue; bò lai 3B có nguồn gen từ giống này với nền cái khác nhau. Đặc điểm phát triển cơ của Belgian Blue liên quan biến thể gen myostatin. UC Davis mô tả cơ sở di truyền này. [1]
Con lai không mặc nhiên có cùng biểu hiện hoặc tốc độ lớn với bò thuần. Tỷ lệ lai, nguồn bố mẹ, giới tính, tuổi, sức khỏe và giai đoạn nuôi trước đều ảnh hưởng kết quả.
Không dùng mức 650–800 kg lúc 18–20 tháng như một tiêu chuẩn mua bán hoặc dự báo chung. Cần xem hồ sơ cân của đàn cùng nguồn và điều kiện tương tự, đồng thời so với yêu cầu người mua.
2. Chọn nhóm có khả năng hoàn thiện tương đối đồng đều
Ghi mã cá thể, cân, tuổi ước tính hoặc hồ sơ sinh, nguồn gốc và lịch nuôi. Khám chân, miệng, hô hấp, da và tình trạng cơ thể trước khi quyết định đưa vào nhóm vỗ béo.
Penn State khuyến nghị nhóm bò có kiểu tăng trưởng và thời điểm hoàn thiện gần nhau để phối thức ăn, quản lý thuận lợi hơn. [2] Không chỉ chia theo màu lông hoặc nhìn cơ mông.
Bò mới nhận cần khu theo dõi và lịch chăm sóc phù hợp, không trộn ngay con đang ho, sốt hoặc tiêu chảy vào nhóm đã ổn định. Bò còn nhỏ cần tiếp tục lớn khung có thể chưa phù hợp khẩu phần hoàn thiện của con đã trưởng thành hơn.
3. Chốt cách trả tiền trước khi đầu tư thêm thức ăn
Hỏi người mua trả theo khối lượng sống, thân thịt hay sản phẩm pha lóc, có trừ hao gì và yêu cầu độ béo thế nào. Tỷ lệ thịt và vân mỡ chỉ có giá trị kinh tế khi được đánh giá, trả tiền theo cách rõ ràng.
Không đồng nhất nhiều cơ với vân mỡ cao. Cũng không giữ thêm bò chỉ để đạt một số cân đẹp nếu đầu ra không trả thêm đủ cho chi phí.
Giữ thỏa thuận về cách cân, thời điểm cân và vận chuyển. Lượng thức ăn, nước trong đường tiêu hóa có thể làm số cân thay đổi; cần cùng điều kiện để so mức tăng qua kỳ.
4. Tăng thức ăn tinh theo giai đoạn làm quen
Đàn từ khẩu phần nhiều cỏ, rơm không nên chuyển ngay sang nhiều ngũ cốc. Oklahoma State hướng dẫn có giai đoạn tăng dần thức ăn tinh trong khoảng vài tuần khi chuyển sang nuôi hoàn thiện. [3]
Người lập khẩu phần cần viết từng bước theo lượng ăn, thức ăn đang có và phản ứng đàn. Đã qua một số ngày chưa đủ để tăng tiếp nếu bò đang ăn thất thường, giảm nhai lại hoặc nhiều phân lỏng.
Cấp thức ăn đúng giờ, tránh chu kỳ để đói rồi cho nhiều. Sau khi bỏ cữ hoặc có sự cố nước, không đổ bù lượng lớn ngay vào máng. Kiểm tra nhóm trước rồi điều chỉnh theo kế hoạch.
5. Cân đối từ chất khô, vẫn giữ xơ phù hợp
Khẩu phần có thể dùng ngô, cám, phụ phẩm và thức ăn thô tùy nguồn, nhưng phải tính theo chất khô. Chất khô là phần thức ăn không tính nước; bã bia ướt không thể thay cám khô theo số kilôgam tươi bằng nhau.
Thức ăn thô cần có kích thước và lượng phù hợp để hỗ trợ nhai lại. Không băm toàn bộ thật mịn chỉ nhằm giúp bò ăn nhanh. Phải kiểm tra cả protein, khoáng, vitamin và các nguyên liệu có thể gây giới hạn sử dụng.
Nebraska hướng dẫn quy đổi giữa lượng tươi và chất khô để tránh nhầm khi xây dựng khẩu phần. [4] Ví dụ, cần 3 kg chất khô từ nguyên liệu có 25% chất khô thì phải cân 12 kg tươi. Nếu lô mới chỉ có 20%, cần tính lại thay vì giữ nguyên.
6. Kiểm soát ký sinh trùng theo nguy cơ
Không coi phối ivermectin với albendazole là công thức “tẩy dứt điểm” cho mọi bò mới mua. Loại ký sinh trùng, giai đoạn phát triển, hiệu lực tại vùng và sản phẩm cụ thể quyết định cách xử lý.
Ví dụ, tác dụng lên giun tròn và ngoại ký sinh không tự chứng minh thuốc xử lý được sán lá gan. Sản phẩm cho sán lá trưởng thành cũng chưa chắc có cùng tác dụng lên giai đoạn non.
Thú y lựa chọn kiểm tra và điều trị theo nguồn bò, nơi chăn thả, biểu hiện cùng xét nghiệm khi cần. Cân để dùng đúng sản phẩm, ghi ngày và kiểm tra đáp ứng thay vì cứ đổi thuốc liên tục.
Thời gian ngừng thuốc trước giết mổ khác nhau theo công thức, đường dùng và quy định áp dụng, như tài liệu Merck giải thích. [5] Lấy đúng nhãn sản phẩm đang dùng làm cơ sở, không chép số ngày từ nhãn nước khác.
7. Tính tăng trọng và hệ số thức ăn
Ví dụ giả định, bò từ 450 lên 558 kg trong 90 ngày, tăng 108 kg, tức 1,2 kg/ngày. Đây là mức tăng trong ví dụ tính toán, không phải dự báo cho mọi con BBB.
Nếu tổng chất khô thực sự tiêu thụ là 810 kg, hệ số chuyển đổi thức ăn, viết tắt FCR, bằng 810 ÷ 108 = 7,5 kg chất khô trên mỗi kg tăng trọng. Cần ghi rõ đang dùng chất khô, không dùng tổng kg thức ăn ướt để so với trại khác.
Ở nhóm nuôi chung, có thể tính theo cả nhóm nhưng phải cập nhật con ra vào và phần thức ăn bỏ. Nếu chỉ có lượng đã cấp, gọi đúng là hệ số theo thức ăn cấp, không khẳng định là lượng đã ăn.
Penn State giải thích chương trình dinh dưỡng phải gắn với lượng ăn, kiểu bò và chi phí tăng trọng. [6] Theo dõi giữa kỳ giúp tìm con chậm trước khi tốn đủ 90 ngày.
8. Lập bảng kinh tế với giá giả định rõ ràng
Giả sử mua bò 450 kg với giá 75.000 đồng/kg, tiền mua là 33,75 triệu đồng. Bán 558 kg cùng giá giả định thu 41,85 triệu, chênh giá trị bò là 8,10 triệu đồng.
Giả sử thức ăn 45.000 đồng/ngày trong 90 ngày, tổng là 4,05 triệu. Nếu các khoản còn lại gồm thú y, công, điện nước, khấu hao, vốn và vận chuyển cộng 1,95 triệu, tổng chi phí ngoài mua bò là 6 triệu. Phần chênh còn lại là 2,10 triệu trước các khoản chưa được đưa vào bảng, nếu có.
Toàn bộ giá và chi phí ở đây chỉ để minh họa. Nếu giá bán thấp hơn 5.000 đồng/kg, doanh thu giảm 558 × 5.000 = 2,79 triệu, đủ làm ví dụ trên chuyển lỗ. Vì vậy tăng trọng tốt vẫn chưa bảo đảm có lãi.
9. Quyết định xuất dựa vào mức tăng thêm
Gần cuối kỳ, so tiền dự kiến thu thêm khi giữ bò với thức ăn, công, vốn và rủi ro trong thời gian đó. Không chỉ nhìn lãi bình quân từ đầu kỳ.
Nếu bò đã đạt yêu cầu, tăng chậm và chi phí mỗi kg tăng cao, nên đánh giá xuất sớm. Nếu chưa đạt nhưng còn tiềm năng và đầu ra phù hợp, có thể điều chỉnh kế hoạch sau khi xem sức khỏe và khẩu phần.
Trước xuất, kiểm tra nhận diện, hồ sơ thuốc và điều kiện vận chuyển. Không nhồi nước hoặc thức ăn để làm nặng cân. Kết quả một kỳ nuôi tốt cần phản ánh tăng trưởng thật, sức khỏe và khoản thu đủ bù chi phí.
Tài liệu tham khảo
- UC Davis Veterinary Genetics Laboratory — Belgian Blue.
- Penn State — Considerations for Finishing Cattle for Beef.
- Oklahoma State — Finishing Beef Cattle On The Farm.
- Nebraska — Feed Dry Matter Conversions.
- Merck Veterinary Manual — Withholding Periods After Anthelmintic Treatment in Animals.
- Penn State — Feeding Beef Cattle.
Bài mới nhất
Đang tải bài mới...






0 nhận xét:
Đăng nhận xét