Bò vừa xuống xe có thể trông chưa bệnh rõ nhưng đã ít ăn, đứng tách và thở khác thường. Nếu trại chỉ kiểm tra khi con bò bỏ ăn hoàn toàn, cơ hội can thiệp sớm có thể bị bỏ lỡ.
BRD hoặc BRDC là cách viết tắt bệnh hô hấp phức hợp ở bò. Bệnh liên quan tương tác giữa vật nuôi, mầm bệnh và điều kiện nuôi. Người quản lý cần chuẩn bị chương trình nhận bò từ trước, thay vì xem một mũi tiêm lúc nhập là toàn bộ biện pháp phòng.
1. Vì sao bò mới nhập có nguy cơ?
Cai sữa, gom từ nhiều nguồn, vận chuyển, đổi thức ăn và thay thời tiết có thể xảy ra gần nhau. Bò phải thích nghi môi trường mới trong khi lượng ăn, nước và sức chống đỡ có thể giảm.
Merck Veterinary Manual mô tả các yếu tố như vận chuyển, ghép đàn, bụi và thông gió kém trong bệnh hô hấp phức hợp. [1] Không phải chuyến xe dài nào cũng gây bệnh, nhưng lịch sử trước chuyến và quá trình nhận bò giúp đánh giá nguy cơ.
Khẩu phần nhiều năng lượng chuyển quá nhanh có thể làm rối loạn tiêu hóa và khiến việc phục hồi khó hơn. Phòng hô hấp cần gắn với chương trình ăn, uống và môi trường.
2. Không có một mầm bệnh duy nhất
Các tác nhân có thể gồm virus như herpesvirus bò type 1 liên quan IBR, virus BVD, BRSV và vi khuẩn như Mannheimia haemolytica, Pasteurella multocida, Mycoplasma bovis. Từng trại, nguồn bò và đợt bệnh có thể khác nhau.
Virus và vi khuẩn có thể phối hợp, nhưng không cần mọi ca đều đi theo một chuỗi “virus trước, vi khuẩn sau” giống hệt nhau. Tài liệu tổng quan Merck trình bày BRD như tình trạng đa yếu tố. [1]
Biết tên một vi khuẩn thường gặp chưa đủ để chọn thuốc cho mọi bò ho. Kháng sinh không điều trị trực tiếp virus và không sửa được chuồng quá bí hoặc thiếu nước.
3. Hỏi hồ sơ trước khi chốt nguồn bò
Yêu cầu thông tin nguồn, tuổi, cai sữa, tiêm phòng, thuốc đã dùng và các lần bệnh gần đây. Mã từng con phải nối được với hồ sơ, nhất là thuốc tác dụng kéo dài và thời gian ngừng thuốc.
Nhóm cùng nguồn, đã được chuẩn bị trước vận chuyển khác với nhóm gom nhiều chợ, chưa rõ lịch sử. Mississippi State hướng dẫn phân nguy cơ khi nhận để xây dựng chăm sóc phù hợp. [2]
Không trả thêm chỉ vì người bán nói “đã tiêm đủ” nếu không biết sản phẩm, ngày và lịch nhắc. Chứng từ rõ giúp thú y tránh tiêm chồng hoặc lên lịch sai.
4. Chuẩn bị khu nhận và quan sát lúc xuống xe
Rửa, làm sạch máng, bố trí nước dễ tìm, thức ăn phù hợp và nơi nghỉ khô trước khi xe tới. Có người nhận, đủ ánh sáng, đường xuống không trơn và cách giữ an toàn.
Quan sát đứng, đi, thở, ho, dịch mũi và chấn thương. Con khó thở rõ hoặc không đứng được cần được đánh giá ngay, không đợi đủ một khoảng nghỉ chung.
Với bò qua hành trình dài, cho điều kiện nghỉ, uống và ăn phù hợp trước các thao tác không khẩn cấp. Không áp cứng nghỉ 6–8 giờ cho tất cả, hoặc giữ bò không có thức ăn trong thời gian đó chỉ vì đã ghi trong lịch.
South Dakota State nhấn mạnh nhận bò phải xét quản lý trước đó, lịch vaccine và nguy cơ sức khỏe. [3] Giảm thao tác dồn dập giúp trại chăm sóc hiệu quả hơn.
5. Cho ăn và cấp nước để bò thích nghi
Dùng thức ăn sạch, dễ tiếp cận và chương trình tăng khẩu phần phù hợp điểm xuất phát. Không cho nguyên khẩu phần vỗ béo cuối kỳ ngay ngày nhập.
Kiểm tra con nhút nhát và con yếu có tới nước, máng không. Dung tích bồn đủ nhưng máng bị con khỏe đứng chắn vẫn có thể làm những con khác uống thiếu.
Điện giải chỉ dùng khi có chỉ định hoặc chương trình phù hợp sản phẩm và tình trạng đàn. Không thay nước sạch bằng một hỗn hợp tự pha để “giải nhiệt”. Không ép uống khi bò khó nuốt hoặc thở gắng sức.
Đo thức ăn thừa và quan sát giờ ăn. Một con đến máng nhưng không ăn, hoặc nhai vài miếng rồi đứng ngoài, cần được ghi nhận riêng thay vì xem cả nhóm đang ăn tốt.
6. Quan sát từ xa trước khi lùa bắt
Đứng ở vị trí không làm cả nhóm chạy, tìm con đầu thấp, tai rũ, đứng tách, ít hoạt động, ho hoặc thở nhanh, gắng sức. So với bình thường của nhóm, đồng thời xét trời nóng và hoạt động vừa diễn ra.
NSW Government mô tả bệnh hô hấp có thể tiến từ giảm ăn, ủ rũ tới khó thở rõ. [4] Sốt, dịch mũi hoặc ho là thông tin cần phối hợp, không phải mỗi dấu riêng lẻ đều xác định viêm phổi do vi khuẩn.
Bò há miệng thở, cổ vươn, suy sụp hoặc không đi nổi cần thú y khẩn và hạn chế ép di chuyển. Không lùa chạy để xem con nào tụt lại khi đàn đang nóng hoặc có con khó thở.
7. Khám để chọn hướng xử lý
Người được đào tạo kiểm tra theo chương trình thú y: nhiệt độ, nhịp và kiểu thở, nghe phổi hoặc siêu âm khi phù hợp, cùng lượng ăn và tình trạng khác. Hồ sơ chuyến xe, nguồn và ngày phát bệnh giúp diễn giải.
Thú y có thể chỉ định xét nghiệm hoặc mẫu khi nhiều con bệnh, bệnh bất thường hoặc đáp ứng kém. Mẫu lấy từ đâu, trước hay sau thuốc đều ảnh hưởng ý nghĩa; không coi mọi dịch mũi đều đại diện chắc tác nhân sâu trong phổi.
Hướng dẫn kê đơn cho bò feedlot đặt chẩn đoán, đánh giá nguy cơ và quản lý dùng kháng sinh trong cùng chương trình. [5] Mục tiêu là điều trị đúng con và có tiêu chí theo dõi.
8. Phân biệt điều trị cá thể với kiểm soát nhóm nguy cơ cao
Con đã bệnh cần quyết định điều trị theo khám và sản phẩm được phép dùng. Việc dùng kháng sinh cho nhóm có nguy cơ cao, thường gọi metaphylaxis trong tài liệu, là một quyết định khác và cần thú y đánh giá.
Không biến tulathromycin, florfenicol hoặc thuốc tác dụng kéo dài thành mũi bắt buộc cho mọi lô. Cũng không mặc định kháng viêm phải dùng cho toàn nhóm. Lịch thuốc trước đó, bệnh đi kèm và tình trạng nước cần được xem xét.
Ghi tên thuốc, nồng độ, khối lượng bò, lượng dùng, đường dùng, người thực hiện và mốc kiểm tra lại theo phác đồ. Với thuốc tác dụng kéo dài, không tự tiêm tiếp vì qua vài giờ chưa thấy bò ăn bình thường.
Hạ sốt chưa đồng nghĩa phổi đã hồi phục. Bò cần theo dõi lượng ăn, thở, mức tỉnh và tái phát. Mọi thời gian ngừng thuốc phải lấy theo đúng sản phẩm và chỉ định áp dụng.
9. Đánh giá cả đợt nhập để phòng lô sau
Giả sử một lô 50 con có 8 con được chẩn đoán ca đầu trong kỳ theo dõi, tỷ lệ mắc ghi nhận là 16%. Nếu ba con phải điều trị lại, ghi riêng tỷ lệ tái điều trị và mẫu số, không cộng thành 11 con mắc mới.
So theo nguồn, chuyến, ngày nhập và khu nuôi. Ghi cả tăng trọng sau bệnh và loại thải, vì không chết chưa có nghĩa không mất hiệu quả sản xuất.
Rà lịch tiêm trước vận chuyển, giảm gom nhiều nguồn, cải thiện thông gió và ổn định ăn uống. Chương trình vaccine cần đúng sản phẩm và kế hoạch thú y; nó không tạo miễn dịch ngay khi vừa tiêm hoặc thay mọi biện pháp giảm lây.
Giữ quy trình quan sát nhất quán qua các ca. Người cho ăn thường nhìn ra thay đổi sớm, nên cần có cách báo nhanh và người chịu trách nhiệm kiểm tra con đó trong ngày.
Tài liệu tham khảo
- Merck Veterinary Manual — Overview of Bovine Respiratory Disease Complex.
- Mississippi State — Stocker Cattle Receiving Management.
- South Dakota State — Receiving Management Matters.
- NSW Government — Bovine Respiratory Disease or Shipping fever.
- Antimicrobial prescribing guidelines for feedlot cattle — Respiratory system.
Bài mới nhất
Đang tải bài mới...






0 nhận xét:
Đăng nhận xét