ĐO ĐỂ HIỂUHIỂU ĐỂ CHỦ ĐỘNG

Dan URL anh Blogger vao cac thuoc tinh data-... Can de nguyen dau ngoac kep.

Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2026

Khối liếm khoáng cho bò: Chọn sản phẩm, bố trí và kiểm tra lượng tiêu thụ

Đặt một khối khoáng trong chuồng khá đơn giản. Việc khó hơn là biết khối đó cung cấp chất gì, bò liếm được bao nhiêu và có bổ sung đúng phần khẩu phần đang thiếu hay không.

Khối liếm có thể thuận tiện với đàn chăn thả hoặc khó cho ăn khoáng riêng từng ngày. Với bò ăn khẩu phần trộn hoàn chỉnh, cần kiểm tra lượng khoáng đã có trong thức ăn trước khi đặt thêm.

1. Khối muối, khối khoáng và khối đạm khác nhau

Một khối chủ yếu là muối không tự cung cấp đủ canxi, phốt pho, magiê và mọi vi lượng. Khối có thêm mật rỉ hoặc đạm cũng có cách sử dụng khác với khối khoáng thông thường.

University of Georgia lưu ý một số khối chỉ là muối có bổ sung vi lượng, chưa đáp ứng được nhu cầu khoáng đa lượng. Cần đọc nhãn thay vì quyết định từ màu hoặc độ cứng của khối. [1]

Nếu sản phẩm có urê hoặc nguồn nitơ phi protein, phải đưa vào phần tính tổng NPN của khẩu phần và dùng đúng nhóm bò. Không coi mọi khối liếm đều có thể đặt tự do cho bê, bò mới nhập hoặc mọi loài vật nuôi.

2. Với NACO, cũng cần đọc đúng mã và nhãn sản phẩm

NACO đã được giới thiệu trong hoạt động hội thảo chăn nuôi tại Việt Nam, trong đó có thông tin từ Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì. [2] Thông tin hội thảo không thay thế bảng thành phần của khối trại đang mua.

Trước khi sử dụng, lưu ảnh đầy đủ nhãn, tên sản phẩm, nhà sản xuất, số lô, hạn dùng, thành phần bảo đảm và hướng dẫn. Nếu người bán chỉ đưa một danh sách khoáng nhưng không có hàm lượng, chưa thể tính lượng bổ sung.

Không gán một công thức natri, canxi hay kẽm chung cho mọi khối mang tên thương hiệu. Mã sản phẩm và nhóm vật nuôi trên nhãn mới là cơ sở để đối chiếu với khẩu phần của trại.

3. Bò không tự chọn chính xác phần khoáng còn thiếu

Bò có sự thèm muối, nhưng không thể dựa vào đó để kết luận chúng sẽ tự cân bằng đủ từng khoáng. Wisconsin giải thích rằng cách để riêng nhiều khoáng cho bò tự chọn không bảo đảm đáp ứng nhu cầu từng chất. [3]

Khối được liếm nhanh có thể liên quan khẩu vị, lượng muối, vị trí đặt hoặc thời gian trước đó bị gián đoạn. Khối dùng chậm có thể quá cứng, bị bẩn hoặc khó tiếp cận. Những biểu hiện này chưa đủ để chẩn đoán thiếu hay thừa một nguyên tố.

Liếm đất, gặm tường hoặc ăn vật lạ cũng cần đánh giá cùng khẩu phần, sức khỏe và điều kiện nuôi. Nếu bò đã ăn túi nhựa hoặc có rối loạn tiêu hóa, cần kiểm tra thú y; chỉ đặt thêm khoáng không xử lý được dị vật đã nuốt.

4. Bắt đầu từ phần thiếu trong khẩu phần

Liệt kê cỏ, thức ăn ủ, rơm, thức ăn tinh, nước và khoáng đang bổ sung. Xác định lượng ăn thực tế, giai đoạn sinh sản và mức sản xuất. Mẫu thức ăn cần đại diện cho nguồn đang dùng để phân tích có ích.

Missouri trình bày các cách cấp khoáng qua khẩu phần hoàn chỉnh, thức ăn bổ sung và hỗn hợp tự do. Phương án tự do có thể khiến một số con ăn nhiều, số khác nhận ít. [4] Vì vậy cần chọn cách cấp phù hợp mức kiểm soát của trại.

Bò cạn sữa, bò đang khai thác sữa và bò thịt không mặc nhiên dùng cùng sản phẩm. Nếu đã có công thức khoáng cho giai đoạn trước đẻ, mọi nguồn bổ sung ngoài công thức cần được người phối khẩu phần kiểm tra.

5. Quy đổi nhãn thành lượng bò nhận

Giả sử một khối ghi 2.000 mg kẽm/kg sản phẩm. Nếu lượng tiêu thụ bình quân là 40 g/con/ngày, lượng kẽm tương ứng bằng 2.000 × 0,04 = 80 mg/con/ngày.

Nếu lượng liếm giảm còn 20 g, cùng khối đó chỉ cung cấp 40 mg kẽm. Hai trường hợp dùng cùng sản phẩm nhưng đóng góp dinh dưỡng khác nhau. Các số trên là ví dụ tính toán, không phải thành phần NACO hoặc lượng dùng được khuyến nghị.

Cần phân biệt phần trăm nguyên tố với phần trăm hợp chất chứa nguyên tố. Nếu nhãn ghi muối ăn, không tự xem toàn bộ khối lượng muối là natri. Người làm khẩu phần cần dùng đúng cách công bố của sản phẩm.

6. Bố trí để bò nhỏ và bò nhút nhát cũng tiếp cận được

Đặt khối trong giá hoặc hộp phù hợp, ổn định và không có cạnh gây thương tích. Chọn vị trí bò đi tới thuận tiện, không cản đường ăn, uống hoặc làm một nhóm phải tranh nhau tại chỗ hẹp.

Không ấn định mọi trại đều phải treo cao 1,0–1,2 m. Chiều cao phải phù hợp tầm vóc nhóm bò và kiểu giá, sao cho bò dùng được với tư thế tự nhiên. Quan sát thực tế sau khi đặt có giá trị hơn đo đúng một chiều cao nhưng bò không tiếp cận được.

Nebraska lưu ý số điểm cấp, vị trí, ảnh hưởng thời tiết và tần suất bổ sung đều tác động đến lượng khoáng nhận được. [5] Khối ngoài trời cần tránh nước mưa đọng, nước rửa chuồng và phân bắn.

7. Cân khối để tính lượng tiêu thụ bình quân

Ghi khối lượng đầu kỳ, phần đặt thêm, khối lượng còn cuối kỳ và phần mất do vỡ, rơi hoặc rửa trôi. Lượng biến mất khỏi giá không phải lúc nào cũng là lượng bò đã liếm.

Ví dụ giả định, trong 10 ngày nhóm 30 bò dùng mất 12 kg sản phẩm sau khi đã trừ phần rơi. Bình quân là 12.000 ÷ 10 ÷ 30 = 40 g/con/ngày. So con số này với hướng dẫn của đúng sản phẩm.

Nếu số bò thay đổi, dùng tổng số ngày-con: mỗi ngày cộng số bò có trong nhóm. Không lấy số đầu kỳ chia cho cả tháng khi giữa tháng đã chuyển nhiều bò đi.

Ngay cả khi bình quân phù hợp, vẫn cần quan sát con nào ít tới giá hoặc bị đẩy ra. Khi cần bảo đảm lượng cụ thể, phải xem lại cách cấp khoáng thay vì chỉ thêm khối.

8. Điều chỉnh có theo dõi, tránh thêm chồng nhiều sản phẩm

Nếu dùng ít, kiểm tra khối bẩn, giá khó tiếp cận, vị trí và các nguồn muối khác. Nếu dùng nhiều, kiểm tra khối bị nước làm mềm, bò gặm vỡ hoặc nguồn cung trước đó bị ngắt. Thay một yếu tố rồi đo lại.

Penn State lưu ý đặt thêm khoáng tự do khi thức ăn đã cung cấp đủ có thể gây lãng phí hoặc mất cân đối. [6] Không tự thêm bột khoáng, thuốc tiêm và khối liếm cùng lúc chỉ vì lông chưa bóng hoặc sinh sản chưa tốt.

Khối liếm cũng không thay thế nước uống và biện pháp làm mát. Trong ngày nóng, kiểm tra khả năng cấp nước, chỗ nghỉ và lượng ăn cùng với chương trình khoáng. Không chờ bò liếm để tự giải quyết mọi rối loạn điện giải.

9. Đánh giá bằng dinh dưỡng và kết quả đàn

Theo dõi lượng sản phẩm dùng, chi phí, tình trạng cơ thể, tăng trưởng hoặc sữa cùng các chỉ tiêu sức khỏe phù hợp. Lông bóng hơn là một quan sát, chưa đủ để kết luận đã sửa được thiếu khoáng hoặc tăng miễn dịch.

So các giai đoạn có ghi nhận cả thay đổi thức ăn, thời tiết và chăm sóc. Nếu cần xét nghiệm đánh giá khoáng, thú y chọn mẫu phù hợp với nguyên tố và mục tiêu kiểm tra.

Khối liếm hiệu quả là sản phẩm có thành phần phù hợp, bò tiếp cận được và lượng tiêu thụ được kiểm tra. Lịch cân, ảnh nhãn và hồ sơ nhóm bò giúp trại quản lý việc đó rõ ràng hơn lời giới thiệu về một thương hiệu.

Tài liệu tham khảo

  1. University of Georgia — Mineral Supplements for Beef Cattle.
  2. Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì — Thông tin hội thảo về đá liếm NACO.
  3. University of Wisconsin — Understand Minerals for Healthier, More Productive Cattle.
  4. University of Missouri — Mineral Supplements for Beef Cattle.
  5. University of Nebraska — Formulation Considerations for Mineral and Vitamin Supplements for Beef Cows.
  6. Penn State — Dietary Minerals for Dairy Cows on Pasture.

Bài mới nhất

Đang tải bài mới...

0 nhận xét:

Đăng nhận xét